Cẩm Giang

Nước son tháng Bảy

Truyện ngắn mẫu, đủ dài để kiểm phân trang nhiều trang.

Tháng bảy âm, nước bắt đầu chuyển màu. Từ trên cầu Cẩm Giang nhìn xuống, tôi thấy dòng nước không còn xanh trong như hồi tháng năm mà đã ngả sang thứ hồng nhạt phù sa, thứ màu mà bà tôi vẫn gọi là “nước son”. Gió từ phía thượng nguồn thổi về mang theo mùi bùn non và mùi cỏ mục, một mùi rất riêng mà chỉ ai sinh ra ở đây mới phân biệt nổi với bất cứ thứ mùi nào khác trên đời. Tôi đứng đó rất lâu, để cho cái mùi ấy tràn vào ngực, như thể đang uống lại một ngụm tuổi thơ đã cạn từ lâu.

Con nước năm nay về sớm hơn mọi năm chừng nửa tháng. Người già trong xóm bảo năm nào nước về sớm là năm đó cá linh nhiều, ruộng được phù sa bồi dày, gặt xong vụ sau lúa lên tốt bời bời. Tôi không còn nhớ rõ những quy luật ấy có đúng hay không, chỉ nhớ rằng mỗi lần nghe ai nhắc tới “nước về sớm” là trong lòng lại nhộn nhạo một cảm giác náo nức khó gọi tên, cái náo nức của một đứa trẻ sắp được thả lưới cùng ông ngoại.

Tôi về Cẩm Giang lần này sau đúng chín năm xa cách. Chiếc va li kéo lộc cộc trên con đường đất mới trải đá, hai bên là những rặng bần đã ngả sang màu úa vì ngâm nước lâu ngày. Ở đầu xóm, mấy đứa nhỏ đang lùa vịt chạy đồng, tiếng vịt kêu quàng quạc hòa vào tiếng máy Kohler nổ xình xịch từ chiếc ghe chở lúa đậu bên bờ. Không ai trong đám trẻ ấy nhận ra tôi, và tôi cũng không còn nhận ra đứa nào, cảm giác vừa quen vừa lạ khiến bước chân tôi chậm lại.

Bến đò cũ vẫn còn đó, tuy đã xiêu vẹo hơn xưa nhiều. Cây cột chống bằng thân dừa mà ông ngoại tôi đóng xuống hồi tôi còn học lớp ba giờ đã mục một bên, người ta phải nẹp thêm mấy thanh sắt để giữ cho khỏi sập. Tôi ngồi xuống bậc thềm đá, nhìn dòng nước cuộn qua chân bến, lòng bỗng nhớ tiếng mái chèo khua nước đều đặn của ông, cái âm thanh mà tôi từng nghĩ sẽ theo mình suốt đời nhưng rốt cuộc cũng phai dần theo năm tháng thị thành.

Ông ngoại tôi là người chèo đò cuối cùng của bến này. Ông không lái ghe máy như người ta bây giờ, suốt mấy chục năm chỉ trung thành với cây dầm gỗ sao đã lên nước bóng loáng vì tay ông xoa miết mỗi ngày. Ông bảo chèo tay mới nghe được tiếng cá quẫy dưới đáy sông, mới biết chỗ nào nước xoáy mà tránh, còn máy nổ ầm ầm thì chỉ có nước mà điếc tai, chẳng cảm được lòng sông đang nói gì.

Mỗi mùa nước nổi, ông thường đánh thức tôi từ lúc trời còn nhá nhem, kêu tôi xách cái thùng thiếc theo ông ra đồng giăng lưới. Sương giăng trắng cả mặt ruộng, chỉ có tiếng dầm khua nhè nhẹ và tiếng ông thở đều đều phía sau lưng tôi. Tôi ngồi thu lu trước mũi xuồng, hai tay ôm gối, mắt dán vào từng đường lưới ông thả xuống, lòng hồi hộp không biết mẻ này được bao nhiêu cá linh, bao nhiêu tôm càng.

Có bận lưới dính phải một con cá lóc bông to gần bằng bắp chân người lớn, tôi mừng quá reo lên làm nó quẫy văng cả nước vào mặt hai ông cháu. Ông ngoại cười khà khà, nụ cười móm mém vì đã rụng gần hết răng cửa, bảo rằng “con cá này chắc để dành cúng rằm”. Đến giờ tôi vẫn nhớ như in cái cảm giác nước sông bắn lên má mình lành lạnh, và tiếng cười của ông vang trên mặt đồng vắng, một âm thanh mà tôi tin chắc không nơi nào khác có được.

Xuồng cặp bến lúc mặt trời vừa ló khỏi rặng tràm, cũng là lúc dì Tư tôi đã dọn hàng ra chợ nổi. Chợ họp ngay khúc sông trước đình, ghe xuồng chen chúc nhau, mỗi chiếc treo lủng lẳng một cây bẹo trên đó buộc thứ gì đang bán để người mua từ xa nhìn thấy mà ghé lại. Ghe dì Tư bẹo bó bông điên điển vàng rực, lẫn trong đó là mớ cá linh non còn tươi roi rói, vảy bạc lấp lánh dưới nắng sớm.

Dì Tư năm nay đã ngoài sáu mươi, tay chân vẫn còn nhanh nhẹn nhưng lưng đã còng hẳn xuống vì mấy chục năm ngồi bó gối trên ghe. Thấy tôi, dì la lên một tiếng mừng rỡ, buông cả cây dầm để ôm chầm lấy tôi giữa chợ, nước mắt rưng rưng dù miệng vẫn cười. Dì hỏi tôi đủ chuyện, nào công việc trên thành phố, nào có vợ con gì chưa, nào ăn uống có đàng hoàng không, hỏi dồn dập như sợ tôi lại biến mất lần nữa trước khi kịp trả lời hết.

Cha tôi mất trên chính khúc sông này, vào một mùa nước nổi khi tôi mới lên năm. Người ta kể lại rằng ông đi thăm lưới một mình lúc nửa đêm, gặp phải cơn giông bất chợt, xuồng lật giữa dòng mà không ai hay biết. Mẹ tôi sau đó bồng tôi bỏ xứ lên thành phố làm công nhân, chỉ có ông ngoại là ở lại giữ căn nhà sàn bên bến, giữ luôn phần mộ của cha tôi trên gò đất cao gần đó.

Tôi lớn lên với rất ít ký ức về cha, phần lớn những gì tôi biết đều do ông ngoại kể lại trong những đêm mưa. Ông nói cha tôi là tay chài lưới giỏi nhất vùng, biết đọc con nước như đọc lòng bàn tay, vậy mà cuối cùng vẫn không tránh khỏi số phận của biết bao người đàn ông sống bằng nghề sông nước nơi đây. Có lẽ vì vậy mà ông ngoại càng thương tôi hơn, càng dốc lòng dạy tôi mọi thứ ông biết về con nước, như thể muốn bù đắp cho phần thiếu hụt mà cha tôi để lại.

Ông dạy tôi cách phân biệt tiếng nước lớn với tiếng nước ròng chỉ bằng cách áp tai xuống mạn xuồng. Ông chỉ tôi cách đan lưới sao cho mắt lưới đều tay, cách vá lại chỗ rách bằng sợi cước mảnh mà không để lại mối rối. Có những buổi chiều hai ông cháu ngồi trước hiên nhà sàn, ông vừa đan lưới vừa kể chuyện thời trẻ ông từng chèo đò chở lúa suốt đêm cho kịp phiên chợ sớm ở tỉnh, giọng ông chậm rãi hòa vào tiếng ếch nhái râm ran ngoài đồng nước.

Nhưng những năm gần đây, con nước không còn về đúng hẹn như trước. Người trong xóm bàn tán nhiều về mấy con đập lớn dựng lên tận thượng nguồn, cách Cẩm Giang cả ngàn cây số, nghe đâu ngăn bớt nước và giữ luôn cả phù sa lại phía trên. Cá linh vì thế cũng ít dần, có năm gần như vắng bóng, khiến những ghe hàng như của dì Tư phải chạy xa hơn, tìm mối khác để có đủ cá mà bán.

Tôi hỏi dì Tư năm nay nước có về đủ như ông ngoại từng kể không. Dì lắc đầu, chỉ tay ra khúc sông trước mặt, bảo rằng mực nước năm nay thấp hơn hồi xưa gần một thước, ruộng ngoài kia phải bơm nước vào chứ không còn tự nhiên tràn bờ như trước nữa. Dì thở dài, nói mấy đứa nhỏ trong xóm bây giờ lớn lên mà không biết bơi xuồng, có đứa còn chưa từng thấy con cá linh sống là hình thù ra sao.

Buổi chiều tôi ra thăm mộ ông ngoại trên gò đất cao, nơi cha tôi cũng nằm cạnh bên. Cỏ mọc xanh um quanh hai ngôi mộ, có ai đó đã dọn cỏ và thắp nhang từ trước, chắc là dì Tư hoặc mấy người hàng xóm cũ vẫn còn nhớ đến ông cháu tôi. Tôi ngồi xuống, thắp thêm nén nhang, kể cho ông nghe chuyện tôi đã đi được những đâu, làm được những gì, dù biết ông chẳng thể nghe thấy nhưng lòng vẫn thấy nhẹ nhõm hơn nhiều.

Trên đường về, tôi gặp lại thằng Bảy, bạn học cùng lớp ba với tôi năm nào. Nó giờ không còn theo nghề chài lưới của cha ông nữa mà chuyển sang nuôi cá tra trong mấy cái ao đào sát mé sông, bảo rằng nghề cũ giờ khó sống, cá tự nhiên ngày càng cạn kiệt, phải xoay sang nuôi mới đủ nuôi vợ con. Nó mời tôi vào nhà uống nước, ngồi kể cho tôi nghe biết bao chuyện đổi thay của xóm giềng suốt chín năm tôi vắng mặt.

Bảy kể rằng cây cầu bê tông mới bắc qua sông cách bến đò cũ chừng năm trăm mét đã khiến bến đò gần như thất nghiệp. Người ta giờ chạy xe máy qua cầu cho nhanh, chẳng còn ai chờ đò như trước, mấy chiếc ghe chèo tay lần lượt bị bỏ xó, mục nát dần dưới hàng bần ven sông. Nó nói giọng tiếc nuối, nhưng cũng thừa nhận có cầu thì đi lại thuận tiện hơn nhiều, nhất là những khi trời mưa gió, không phải đứng chờ đò giữa cơn giông như hồi xưa.

Tôi hỏi thăm về ông Tám Còm, người chuyên đóng xuồng nổi tiếng nhất vùng mà tôi từng theo ông ngoại ghé thăm hồi nhỏ. Bảy bảo ông vẫn còn sống, năm nay đã hơn tám mươi, nhưng mắt đã mờ không còn đóng xuồng được nữa, chỉ ngồi nhà kể chuyện cho con cháu nghe. Nghe vậy tôi quyết định chiều hôm sau sẽ ghé thăm ông, phần vì nhớ ông, phần vì muốn hỏi lại vài chuyện cũ mà giờ chỉ còn ông là người nhớ rõ.

Tối hôm đó, tôi ngủ lại nhà dì Tư, căn nhà sàn cũ kỹ nằm sát mé sông mà dì vẫn giữ nguyên từ hồi ông ngoại còn sống. Nằm trên bộ ván gõ, nghe tiếng nước vỗ vào chân sàn nhà đều đặn, tôi bỗng thấy lòng mình lắng lại như chưa từng rời xa nơi này một ngày nào. Ngoài kia, ánh đèn dầu từ những chiếc ghe neo đậu ban đêm hắt xuống mặt sông thành những vệt sáng chập chờn, y hệt như trong ký ức tuổi thơ tôi vẫn còn giữ.

Sáng hôm sau tôi theo dì Tư ra đồng hái bông súng và bông điên điển. Nước ngập ngang bụng, dì lội thoăn thoắt như chẳng hề biết mệt dù tuổi đã cao, còn tôi thì loạng choạng mãi mới quen lại cách giữ thăng bằng trên nền đất trơn dưới nước. Dì vừa hái vừa dạy tôi cách nhận biết bông nào còn non ăn ngon, bông nào đã già chỉ nên để lại cho ong bướm, giọng dì nhẹ nhàng như thể đang kể một câu chuyện cổ tích chứ không phải đang dạy nghề.

Trưa về, dì nấu nồi canh chua bông súng với cá linh mà tôi vừa phụ dì bắt được lúc sáng. Mùi me chua hòa với mùi bông điên điển thơm nhè nhẹ lan khắp gian bếp nhỏ, một mùi vị mà suốt chín năm ở thành phố tôi chưa từng tìm lại được, dù đã thử qua không biết bao nhiêu quán ăn miền Tây giữa lòng đô thị. Ngồi ăn cùng dì trên bộ ván, tôi chợt hiểu vì sao người ta cứ nhắc mãi câu “ăn cơm mùa nước nổi” như một thứ hạnh phúc không gì sánh được.

Chiều đó tôi ghé thăm ông Tám Còm như đã hẹn với Bảy. Ông ngồi trên chiếc võng đưa kẽo kẹt trước hiên, đôi mắt đã đục màu nhưng vừa nghe tôi xưng tên là ông nhận ra ngay, giọng run run gọi tôi là “thằng cháu của ông Hai chèo đò”. Ông kể cho tôi nghe biết bao chuyện về ông ngoại tôi thời trai trẻ, những chuyện mà chính tôi cũng chưa từng được nghe, khiến tôi vừa ngồi nghe vừa thấy sống mũi cay cay.

Ông Tám bảo hồi xưa ông và ông ngoại tôi từng cùng nhau đóng chiếc xuồng ba lá đầu tiên cho cả xóm, dùng gỗ sao lấy từ rừng tràm phía sau đình. Hai người thức mấy đêm liền bên đống lửa nhỏ để uốn ván cho đúng dáng, vừa làm vừa cãi nhau chí chóe về việc nên uốn cong bao nhiêu độ mới chuẩn, cuối cùng chiếc xuồng ấy chèo bền suốt gần hai mươi năm mới rã. Ông nói mắt nhìn xa xăm, như thể đang thấy lại cả quãng đời trai trẻ hiện về trước mặt.

Tôi hỏi ông có buồn không khi nghề đóng xuồng giờ gần như mất hẳn, chẳng còn mấy ai đặt đóng xuồng ba lá như xưa. Ông trầm ngâm một lúc rồi bảo buồn thì có buồn, nhưng đời sống mà, cái gì hợp thời thì còn, cái gì lỗi thời thì phải nhường chỗ, chỉ mong sao con cháu đừng quên hẳn những gì cha ông từng làm ra bằng chính đôi tay mình. Câu nói ấy cứ vang mãi trong đầu tôi suốt quãng đường về, như một lời nhắn nhủ không hẳn dành riêng cho ai.

Đêm cuối cùng trước khi tôi trở lại thành phố, dì Tư làm mâm cơm cúng giỗ nhỏ cho ông ngoại, dù chưa đúng ngày giỗ chính nhưng dì bảo có tôi về là dịp quý, phải thắp nhang cho ông vui. Trên bàn thờ, tấm hình ông ngoại chụp hồi còn trẻ, đứng bên chiếc xuồng ba lá, ánh mắt cương nghị mà hiền hậu nhìn thẳng vào ống kính. Tôi thắp ba nén nhang, đứng lặng người rất lâu trước bàn thờ, cảm giác như ông vẫn đang ở đâu đó rất gần, dõi theo từng bước chân tôi.

Tiếng chuông chùa Cẩm Giang vọng lại từ xa lúc trời vừa sẩm tối, hòa vào tiếng ếch nhái và tiếng nước chảy rì rào ngoài bến. Tôi ra ngồi trước hiên nhà sàn, nhìn ánh trăng thượng tuần loang trên mặt sông, lòng bỗng dưng không muốn rời đi nữa. Có lẽ chín năm xa cách đã đủ để tôi hiểu ra rằng thành phố dẫu tiện nghi đến đâu cũng không thể thay thế được cái cảm giác ngồi giữa mênh mông nước trời như thế này.

Dì Tư ngồi cạnh tôi, tay têm miếng trầu quen thuộc, hỏi tôi có tính về ở hẳn không hay chỉ ghé chơi rồi lại đi. Tôi chưa trả lời được ngay, chỉ biết trong lòng đã bắt đầu tính đến chuyện xin việc gần nhà hơn, may ra có thể về thăm dì thường xuyên, về thắp nhang cho ông ngoại và cha vào những ngày giỗ chạp mà suốt bao năm qua tôi đã lỡ hẹn. Dì cười, bảo không cần vội, chỉ cần tôi còn nhớ đường về là được rồi.

Sáng hôm sau, trước khi ra bến xe, tôi ghé lại bến đò cũ lần nữa. Nước vẫn cuồn cuộn chảy qua chân bến, mang theo phù sa đỏ, mang theo cả những cọng lục bình trôi lững lờ về phía hạ nguồn. Tôi đứng đó, tưởng tượng tiếng mái chèo của ông ngoại vẫn còn vang đâu đó giữa dòng, đều đặn và bền bỉ như chính con nước đã nuôi lớn bao đời người ở vùng đất này.

Xe chạy ngang qua cây cầu mới, tôi ngoái nhìn lại bến đò một lần cuối, thấy nó nhỏ dần rồi khuất hẳn sau rặng bần xanh thẫm. Tôi biết rồi đây bến đò ấy có thể sẽ chẳng còn ai lui tới, rồi sẽ mục nát và biến mất như bao dấu tích khác của một thời sông nước đã qua. Nhưng con nước thì vẫn cứ về mỗi năm, vẫn mang phù sa bồi đắp cho từng thửa ruộng, vẫn nuôi lớn từng đàn cá linh non, như một lời hẹn không bao giờ sai của đất trời với con người Cẩm Giang.

Và tôi tin, chừng nào con nước còn về, chừng đó những câu chuyện như của ông ngoại tôi, của ông Tám Còm, của dì Tư vẫn còn có người kể lại, có người lắng nghe. Mùa nước nổi năm nay rồi sẽ qua, nhưng tôi biết mình sẽ còn quay lại, không chỉ một lần, để ngồi lại bên bến sông ấy, để nghe lại tiếng mái chèo trong ký ức, và để giữ cho ngọn lửa nhỏ của quê nhà không bao giờ tắt hẳn trong lòng mình.

Về tác giả

Cao Xuân Đài

Nhà nghiên cứu mỹ thuật, viết về hội hoạ hiện đại Việt Nam.

Xem tất cả bài của tác giả