Cứ mỗi độ hè về, khi phượng đỏ trong sân trường trổ hoa, ve kêu râm ran, nắng miền Trung hầm hập kéo về bắt đầu hong khô những lối đi đất đỏ và mùi rơm rạ len vào tận giấc ngủ trưa, ngoài những buổi rong chơi cùng đám bạn trong xóm, tôi lại lẩn quẩn quanh nhà ông bà Nội. Nhà ông bà nằm trên con đường đất quanh trục đường chính của làng. Từ sân nhà Nội nhìn xuống có thể thấy nhà tôi nhỏ bé, nằm thấp dưới một gò đất, giữa một khoảng đất trống rộng thênh thang như cái lòng chảo chỉ có một con đường mòn đất cát dẫn xuống nhà tôi. Có hôm đứng trên sân gọi to, tiếng vọng theo gió bay xuống tận nhà dưới nghe vui như trò đùa của bọn trẻ con.
Nhà Nội rộng lắm, kiểu nhà ba gian xưa cũ. Gian giữa để thờ, nghiêm trang mà ấm cúng; bên cạnh là gian lớn nối liền với bếp; vòng ra phía bên hông nhà là cái kho Nội tôi dùng để cất đồ, mùa thu hoạch chất đầy khoai, sắn và lúa thơm nức mùi thóc mới. Trên cột nhà những thân gỗ to, nâu sẫm, bóng lên theo năm tháng, phía trên tường treo mấy tượng hình con tôm, con tép bằng sành sứ, mấy cái tượng sành tôm tép đó cho tới bây giờ như món đồ cổ mà nhà nào gìn giữ lắm mới còn lại được. Trước nhà là khoảng sân rộng rãi, mỗi mùa thu hoạch Nội lại mang những thành quả gặt hái được về phơi trên sân ấy, vàng ươm màu lúa, màu khoai, màu sắn. Cái sân ấy cũng chính là thế giới tuổi thơ của tụi trẻ con chúng tôi, nơi chạy nhảy, đá bóng, rượt đuổi, cười vang suốt những buổi chiều không chịu tắt nắng.
Quanh nhà là lũy tre làng xanh rì, mấy gốc tre già rễ nổi lên khỏi mặt đất như những mạch ngầm của ký ức. Từ cổng vào nhà, hai bên là giàn bìm bịp Nội trồng, hoa nở run rẩy trong gió. Vườn nhà trồng toàn mít, những thân cây to thẳng, có những cây trồng đã rất lâu ngước nhìn mỏi cả cổ. Đến mùa mít, mấy chú tôi đi quanh cầm cây khẽ gõ vào trái, tiếng “bụp bụp” chắc nịch vang lên như báo hiệu sắp chín. Rồi trái mít được hái xuống, ủ vài hôm cho chín, đến lúc mùi thơm lừng lan khắp nhà là được xẻ ra, cả nhà ngồi quây quần xẻ mít, tụi tôi tranh nhau lựa múi to nhất ăn, mủ mít dính cả tay, cười hoài không hết.
Trước cổng nhà Nội, cô Sáu dựng một cái quán nhỏ, bán đủ thứ lặt vặt trong nhà nào là gia vị, nào là bánh ngọt và vài vật dụng cần thiết cho dân quanh vùng. Chơi chán, tôi hay ghé ngồi trước quán, vừa chơi chạy nhảy loanh quanh vừa đợi mẹ đi dạy về. Ngày nào mẹ ở nhà, tôi lại chạy qua chạy về giữa hai nhà. Mỗi khi đến ngày giỗ, họ hàng lại tề tựu đông đủ. Bọn trẻ con chúng tôi tụ tập chạy nhảy lon ton cùng nhau. Các cô, các chú, ai nấy đều bận rộn mỗi người một tay phụ chuẩn bị mâm cúng. Mẹ tôi cũng tất bật hơn mọi ngày tự tay ghi chép, xách cái giỏ nhựa đỏ đi chợ, mua thêm mấy món đồ cần cho ngày đám giỗ. Từ ngày mẹ về làm dâu ở làng Đông Phước, cũng là nơi tôi sinh ra và lớn lên thì quê Nội cũng trở thành quê hương thứ hai của mẹ.
Ông bà ngày xưa từ vùng đất hoang mà khai khẩn, dựng nhà vun vén thành mái ấm. Ông Nội tôi là nhà nho, người ta gọi ông là “ông giáo”. Ông đọc được chữ Nôm, chữ Hán, buổi tối sau giờ làm ruộng lại chong đèn dịch sách, viết tay từng trang một. Đến tận bây giờ, trong làng vẫn không còn ai đọc được chữ Nôm, chữ Hán như ông nữa. Những đêm trời mát, ánh đèn dầu hắt xuống trang sách ông đang đọc, còn ngoài sân, bà Nội ngồi têm trầu miệng nhai móm mém . Bọn trẻ tụi tôi chạy nhảy trong cái sân rộng, chơi trốn tìm, đuổi bắt dưới ánh trăng non, thứ ánh sáng dìu dịu mát mẻ cả khoảng trời.
Những mùa hè ấy, tôi còn theo ông bà ra ruộng. Nội trồng lúa, trồng khoai, trồng đậu phụng, ở nơi xa lắm phải băng qua con đường cái Bắc – Nam rồi men theo lối đất ngoằn ngoèo mới tới. Tôi với cu Rim – con của cô Sáu, ở chung nhà với ông bà gần tuổi nhau nên tụi tôi suốt ngày chơi với nhau. Mùa gặt đến, chúng tôi theo Nội ra đồng. Những cánh đồng lúa vàng ươm, thơm mùa lúa chín. Lúa chín vàng đung đưa trong gió đồng ngả nghiêng. Người lớn cúi mình cắt lúa, còn tụi tôi thì đứng trên bờ bắt cào cào, châu chấu, xỏ thành xâu dài, có khi bỏ vào túi nilon mang về cho mấy con chim nuôi ở nhà. Có khi Nội bắt được mấy con cá rô đồng to bự, xâu lại mang về nướng thơm lừng, ăn với cơm nóng mà ngon lạ thường.
Ngoài đồng, gió thổi qua đám lúa chín vàng, thơm mùi nắng và bùn non. Chúng tôi ngồi đong đưa chân xuống bờ nước, bì bõm nghịch nước rồi ăn khoai nội lùi trong trấu ven đường. Có bữa theo Nội lên vườn Chuộc, cái khoảng đất Nội trồng đậu phụng. Đến mùa, Nội nhổ từng bụi đậu, chất thành gánh vào đôi gióng, gánh về phơi khô rồi bứt lấy hạt đậu, Nội để dành ép dầu phụng dùng cho cả năm. Đường qua vườn phải lội qua mấy vũng nước sâu đến đầu gối. Cu Rim còn nhỏ, Nội bỏ nó vào chiếc rổ tre ngồi một đầu quang gánh, đầu kia chất đầy đậu, gánh đi nhịp nhàng qua từng thửa ruộng.
Chúng tôi lớn lên theo từng mùa gió đồng như thế. Rồi một ngày, tôi chẳng còn lon ton theo chân Nội ra đồng nữa. Bọn trẻ con ngày nào cũng mỗi đứa một hướng, chỉ còn ký ức ở lại, ruộng vẫn nằm đó, gió vẫn thổi, nhưng bước chân trẻ thơ không còn quay lại đều đặn như xưa. Chỉ còn ký ức ở lại giống như gióng rổ cũ vẫn treo ở vách nhà, nặng trĩu những mùa lúa đã đi qua./.
DHV

