THU VŨ
Tại sao trong thơ phải có nhạc, lại còn phải có họa cùng với ý thơ, tứ thơ trong một chỉnh thể mới tạo nên một bài thơ sinh động và đa dạng về phương thức biểu đạt?
Thế giới âm thanh từ suối reo sậy rên, từ gió gào, bão giật, từ chim kêu vượn hú,…và cả tiếng lòng của con người thể hiện bằng âm thanh để biểu đạt một điều gì đấy mà con người hướng đến dường như là để giải tỏa nỗi buồn vui, ái nộ,…. Thế giới âm thanh đó được lưu giữ bằng âm nhạc và đồng thời cùng với lưu giữ là truyền đạt những tín hiệu tách ra từ chuổi âm thanh bằng chiết đoạn tương thích với các đơn vị âm thanh, trong đó âm vang của âm thoa xác định đơn vị âm gốc được xem là âm chuẩn trong bảy đơn vị âm thanh chiết ra từ tiếng kêu của thiên nhiên và con người. Thơ đã làm được điều khu biệt cuối cùng để khẳng định rằng không chỉ là thơ mà cũng gọi thơ ca.
Điều nhận ra rằng dù thơ thể hiện theo thể loại nào hay nói cách khác là gương mặt của thơ không thể nào mã hóa được đơn vị phân lập, tức là bấy giờ ngôn ngữ thơ vượt khả năng mã hóa của đơn vị ngôn ngữ không thể phân lập, như thế khả năng truyền đạt của thơ ca bị phá vỡ, nhạc thơ cũng không thể âm vang trên từng câu chữ. Khi ngôn ngữ trong một chiết đoạn đã không phân lập được, không tạo nên âm vang nào để nhạc lưu giữ nên khả năng truyền đạt không có. Từ đó nhạc không xuất hiện trong thơ, bấy giờ người phổ thơ thành nhạc có muốn ghi lại âm thanh bằng các đơn vị âm thanh cũng thật khó thay. Vậy nên, từ đặt vào thơ phải đích thực, phải sinh động, một khi trong thơ vô vị cả từ lẫn lời, đừng tưởng rằng cùng lắm bài thơ sẽ trở thành bài văn xuôi.
Như thế, chính yêu cầu của thơ rằng phải truyền đạt các thông tin đến với người nghe mà người làm nên câu/bài thơ đã xử lý về thời gian và cả không gian đã làm xuất hiện nhạc thơ trong thơ. Từ ngữ trong thơ có lúc đưa ra tín hiệu báo động trước rằng sắp kết thúc đơn vị ngôn ngữ không phân lập để sẵn sàng hướng đến đơn vị ngôn ngữ phân lập. Chính đó, nhạc thơ tồn tạo như một cơ chế làm dừng lại các đơn vị không phân lập để mở ra không gian và thời gian giàu âm thanh và hình ảnh, điều đó dẫn đến hệ lưu giữ và truyền đạt của âm thanh. Nhạc thơ vì thế mà vang lên được! Điều này cho hay rằng tại sao nhạc trong thơ lại đóng vai trò quan trọng đến vậy trong thi pháp thơ ca? Là do người làm thơ cả thảy. Họ tự điều chỉnh âm thanh trong một chiết đoạn để nhạc có thể hóa hồn thơ sống lâu dài cùng với thời gian, loài người và cuộc sống. Một khổ thơ đầy tính nhạc có thể sống cả trăm năm, gắn chặt với đời người, đôi khi hơn thế. Hãy nghe:
Trăng nhập vào dây cung nguyệt lạnh
Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần!
Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm
Mỗi giọt rơi tàn như lên ngân[1]
đấy là những tiếng trùng tiếng lặp, trùng trăng, trùng đàn điều này làm cho nhạc thơ còn dễ sợ hơn nhạc nhạc.
Hãy nghe:
Có một không gian nào
Đo chiều dài nỗi nhớ?
Có khoảng mênh mông nào
Sâu thẳm hơn tình yêu
Ở đầu này nỗi nhớ
Anh mơ về bên em
Ngôi sao như xuống thấp
Cho ta gần nhau hơn…[2]
người đang hoài niệm về một tình yêu xa cách, nghe nhạc thơ trong thơ Ở hai đầu nỗi nhớ dễ chừng bạc đầu như chơi.
Bài thơ Ở hai đầu nỗi nhớ của Trần Đình Chính được nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu phổ thành nhạc (1987), ông đã thấy đặc tính ngôn ngữ trong một chiết đoạn có khả năng phân lập, nên đã cắt ra từ văn bản những chiết đoạn mang đầy nhạc tính – nhạc thơ – để có một bài ca vượt cả tháng năm.
Bài thơ:
Có một không gian nào
Đo chiều dài nỗi nhớ?
Có khoảng mênh mông nào
Sâu thẳm hơn tình thương?
Anh đang ở Pai-lim
Rừng khộp khô trong nắng
Thương em ngoài ấy lạnh
Muốn gửi chút nắng vàng
Ở đầu này nỗi nhớ
Anh mơ về bên em
Ngôi sao như xuống thấp
Cho ta gần nhau hơn
Ở đầu kia nỗi nhớ
Nằm đếm tiếng mưa rơi
Đếm mấy triệu hạt rồi
Mà chưa vơi nỗi nhớ
Ở hai đầu nỗi nhớ
Yêu và thương sâu hơn
Ở hai đầu nỗi nhớ
Nghĩa tình đắm thắm hơn.
(Hè, 1980)
Bài thơ được nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu cắt ra bằng các chiết đoạn và phổ nhạc từ bài thơ:
Có một không gian nào
Đo chiều dài nỗi nhớ?
Có khoảng mênh mông nào
Sâu thẳm hơn tình yêu?
…
Ở đầu này nỗi nhớ
Anh mơ về bên em
Ngôi sao như xuống thấp
Cho ta gần nhau thêm
Đêm nghe tiếng mưa rơi
Đếm mấy triệu hạt rồi
Mà chưa vơi nỗi nhớ
Ở hai đầu nỗi nhớ
Yêu và thương sâu hơn
Ở hai đầu nỗi nhớ
Nghĩa tình đắm thắm hơn.
(1987)
Bài thơ phổ thành nhạc dưới các tín hiệu âm thanh đã được phát ra thông qua các tham số âm thanh của ngôn ngữ, tức thông qua tham số thuộc tính, có: cao độ, cường độ và trường độ, đồng thời vớicác tham số biểu thị đơn vị âm thanh, có: nguyên âm, phụ âm. Âm thanh được lưu giữ trong ngôn ngữ thơ ca và được truyền đi, chúng làm nên tiết tấu của thơ. Thế còn các đơn vị âm thanh lại được lưu giữ và truyền đi trong khi nhà thơ tổ chức các quá trình thể loại, tạo nên vần cho thơ. Chính tiết tấu và vần này đã cho phép tự điều chỉnh âm vần tạo nên nhạc thơ để người nhạc sỹ phát hiện ra và ngâm nga lên thành nhạc. Bài thơ có cấu trúc mỗi câu năm chữ, đây là thể loại thơ ngũ ngôn có thế mạnh biểu đạt sự hoài niệm về một thời đã qua – ở đây là một tình yêu đã mất – chỉ còn hoài niệm về cái thương cái nhớ da diết đọng lại. Tính nhạc được tạo nên từ tiết tấu (nhịp điệu), thông qua vần, thanh điệu và đặc biệt là cấu trúc ngôn ngữ trong mỗi chiết đoạn, từ đó bài thơ không chỉ là hoài niệm có nghĩa mà còn vang lên để trở thành nhạc đi cùng năm tháng đời người. Thơ năm chữ không cho thấy sự gấp gáp, sôi động mà cho sự lắng đọng, sâu, trầm. Với cách thể hiện syncopation lệch nhịp cùng âm mở [o] nào – đo, người nhạc sỹ làm thay đổi nhịp điệu, nhấn mạnh vào những phách yếu thường không được nhấn, âm nhạc vang lên từ đó, nhạc thơ thu hút sự chú ý, gây nên sự bất ngờ. Mặt khác, các từ tượng hình như là đo chiều dài, như xuống thấp, ở hai đầu nỗi nhớ phối hợp cùng các tiếng gợi thanh làm cho cảm xúc bị lay động, âm thanh bằng trắc nhẹ lơi đưa nhạc tính sâu lắng trong lòng người nghe và để ngân nga.
Cũng vậy trong bài thơ: Hành khúc ngày và đêm của nhà thơ Bùi Công Minh cũng do nhạc sỹ Phan Huỳnh Điểu phổ thành nhạc, người hát vẫn nhìn thấy các thuộc tính giữa ngôn từ và âm nhạc:
Rất dài và rất xa
Là những ngày mong nhớ
Nơi cháy lên ngọn lửa
Là trái tim yêu thương
Anh đang mùa hành quân
Pháo lăn dài chiến dịch
Bồi hồi đêm xuất kính
Chờ nghe tiếng pháo ran
Ngôi sao như mắt em
Trong những đêm không ngủ
Giáo án em vẫn mở
Cho ánh sao bay vào
…
Dễ nhận ra rằng vần, nhịp, thanh điệu trong cấu trúc bài thơ góp phần tạo nên nhạc thơ. Nhưng để phổ được một bài thơ thành nhạc, chẳng phải bài thơ nào cũng có nhạc, cũng phổ nhạc và ngân nga được. Trong một phương trình hoàn chỉnh của thơ, người nhạc sĩ cắt ra những chiết đoạn mà ở đó ngôn ngữ có khả năng phân lập, nghĩa là có khả năng tạo nên trường liên tưởng hay các đơn vị thuyết minh để khi ngân nga lên được bằng các đơn vị âm thanh. Trong tổ chức một cấu trúc văn bản thơ, quá trình hoạt động của ngôn ngữ thơ phải có sự luân phiên đối lập giữa hiện thực việc đời. Sự luân phiên chính xác mang lại hiệu quả ấn tượng cho người tiếp nhận lặp lại theo chu kỳ, từ đó làm xuất hiện khoái cảm mỹ học. Và thế là bài thơ phổ nhạc đạt yếu tố nghệ thuật vần, nhịp, thanh điệu gây nên tiết tấu có thể sôi động, có thể buồn lắng, có thể là ưu tư, hoặc hy vọng phấn khởi diễn ra và luân phiên thay thế nhau trong không gian và thời gian.
Trong giai đoạn này, thơ chiếm vị trí chủ đạo (có nhiều người làm thơ và xuất bản thơ), điều đó cho hay rằng ngôn ngữ chủ yếu thiết kế bằng lựa chọn. Theo đó, người nhạc sỹ khai thác nhạc trong thơ tất sẽ xem xét về vần của thơ.
Tiết tấu thơ được xem là phần phía sau làm cho thể loại chặt chẽ hơn mà thôi. Để làm được việc phổ thơ thành nhạc, người phổ nhạc phải chọn âm, cho nên họ xem xét đến điệp nguyên âm và phụ âm. Vậy là nhạc thơ chủ yếu do nguyên âm, phụ âm tạo thành.
Trong tiếng Việt có các nguyên âm đối lập trầm – bổng >< kép – mở:
– Bổng: i, ê, e.
– Trầm: u, ô, o
– Thấp: ư, ơ, â, a, ă
Trong tiếng Việt có các phụ âm đối lập vang >< tắc:
– Vang: m, n, nh, ng
– Tắc: b, p, d, t, k, c, ch, tr
– Mở: a, ă, â
Do vậy mà câu thơ nhiều nhạc tính thường tập trung các nguyên âm mở và phụ âm vang:
Nguyên âm mở:
Long lanh tiếng sỏi vang vang hận (XD)
Dọc bờ sông trắng nắng chang chang (HMT)
Phụ âm vang:
Đưa người ta không đưa sang sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong? (TT)
Rất dài và rất xa
Là những ngày mong nhớ
Nơi cháy lên ngọn lửa
Là trái tim yêu thương (BCM)
…
Và cùng với giai đoạn này còn có thơ văn xuôi cũng được phổ thành nhạc, ngôn ngữ thể loại này tập trung vào phương thức kết hợp, thì nhạc thơ tập trung vào tiết tấu.
Trong thơ văn xuôi, âm tiết trong câu thơ trở nên tự do hơn.
Chính thế mà thơ văn xuôi có tiết tấu đa dạng hơn, sự luân phiên bằng – trắc không bó gọn trong câu thơ mà trải đều giữa các câu làm cho tiết tấu cao – thấp luân phiên nhau.
Như thế ở đây nhạc thơ do thanh điệu tạo thành.
Trong tiếng Việt thanh điệu có sự đối lập cao >< thấp và bằng >< trắc.
– Bằng: không dấu, huyền
– Trắc: ngã, sắc, hỏi, nặng
– Cao: không dấu, ngã, sắc
– Thấp: huyền, hỏi, nặng
Theo đó, những câu thơ tập trung nhiều thanh bằng, không dấu là những câu thơ nhiều nhạc tính.
Trong điều kiện cấu trúc thơ văn xuôi luân phiên bằng – trắc tạo nên cao – thấp đan xen trong mỗi câu thơ và cả đoạn thơ cho thấy tính nhạc xuất hiện, và theo đó người phổ thơ thành nhạc xem xét khía canh này trong cấu trúc thơ.
Bài thơ đã phổ nhạc:
Đây thôn Vĩ Dạ
Hàn Mặc Tử
Sao anh không về chơi thôn Vĩ
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?
Chân quê
Nguyễn Bính
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
Nào đâu cái yếm lụa sồi
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen?
Nào đâu cái áo tứ thân
Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen
Những cái đó đâu rồi em nhỉ
Để bây giờ em mặc những thứ tân thời
Em cười tôi vẫn ngẩn ngơ
Tưởng em là khách thập phương mới về
Tưởng em là khách đường xa
Áo quần tân cả, không còn chân quê./.
[1] Nguyệt cầm – Xân Diệu.
[2] Ở hai đầu nỗi nhớ – Trần Đình Chính(bút danh Trần Hoài Thu)
