HỒ SĨ BÌNH
Tăng Tấn Tài sinh ra và sống suốt thời thơ ấu ở Đại Hưng, Đại Lộc, một miền quê bên dòng Vu Gia. Sông Thu Bồn khi chảy về Đại Lộc ở ngã ba Giao Thủy đã tách ra hai nhánh, một là sông Yên, nhánh thứ hai là Vu Gia. Nhà thơ Thanh Quế từng viết về dòng sông này với một vẻ đẹp tao nhã nhưng lắng đọng thân thương của sự giản dị: Trước nhà em sông Vu Gia/ Sau nhà em cũng lại là dòng sông. Với Tăng Tấn Tài, dòng sông ấy luôn để lại trong thẳm sâu tâm hồn thơ của anh một nỗi niềm sâu lắng với Con nước hiền hòa mặc sóng đẩy xô… Bên sông mùa vàng cùng bếp tro, hạt trấu/ Thủy chung một màu/ lăn hạt cát tròn thêm. Anh viết về dòng sông này với một tứ thơ rất lạ: Đường cứ vòng quanh, lòng sông vẫn thẳng/ Thẳng một chữ tình/ Bẻ uốn những đường cong (Tiếng chim trên dòng Vu Gia). Lạ, bởi dòng sông Vu Gia vốn nhiều khúc quanh co (chữ “Vu” trong tiếng Hán là sự quanh co, “Gia” là thêm vào, “Vu Gia” là thêm vào sự quanh co), nhưng đối với tác giả thì “lòng sông vẫn thẳng” để bày tỏ mạnh mẽ khẳng định: Thẳng một chữ tình/ Bẻ uốn những đường cong… Rõ ràng đây là một thái độ, một ý thức như nhắc nhủ chính mình – sống ngay thẳng với đời để không thẹn với sông, với quê hương cho dẫu đời cứ vòng quanh, vòng ngược. Viết về dòng sông, anh vẫn không quên tiếng chim quen/ Bên dòng chảy êm đềm bởi vì đó là tiếng quê – là quê hương khắc khoải luôn đập cánh trong ký ức về một vùng trời êm ái ngọt ngào của Tiếng chim gì hót tuổi thơ/ Ban mai vỗ nhịp ơ hờ gió bay… Chim quen ô cửa dỗi hờn song thưa. Có lẽ tiếng chim ấy đã từng đi theo anh suốt đời, đã gắn với kỷ niệm ấu thơ một thời cơ cực nơi làng quê bên mẹ. Tiếng chim đã bảng lảng với một âm giai nhiều cung bậc đi suốt những trang thơ, chia sẻ từng những nỗi buồn vui, đắng cay ngọt bùi, âu lo và hạnh phúc của người nông dân đối với được – mất mùa màng. Đôi khi sự xuất hiện của tiếng chim cũng báo hiệu một mùa vui sau những lo âu chờ đợi: Giật mình/ vẳng giọng “cúc cu”/ Cỏ xanh bờ thửa/ Trả bù khói thơm. Chim cu xuất hiện báo hiệu một ngày được mùa. Làng quê rợp vàng lúa chín, khói đốt đồng thơm hay ngọn khói đưa hương nồi cơm gạo mới “trả bù” lại những lo toan sợ mất mùa của dân quê. Tiếng chim trong thơ của Tăng Tấn Tài trở thành một nỗi quan hoài, là chất xúc tác trong nỗi nhớ đến mẹ. Anh viết những câu thơ đầy xúc động: Nhịp võng bờ tre/ tiếng chim chiều/ như tiếng mẹ/ níu hoàng hôn. Hình ảnh “tiếng chim” đã đồng nhất với hình ảnh “mẹ” trở nên nhức buốt se sắt như để “níu hoàng hôn”, nghĩa là níu lại thời gian, níu lại một quãng đời không bao giờ trở lại. Tiếng chim như một tiếng kêu thảng thốt, bàng hoàng trong tâm thức. Tiếng chim ấy đã ám ảnh đè nặng lên Trong giấc ngủ chập chờnđau tiếng thở của nhà thơ trong những ngày xa quê, không chỉ tồn tại tronghiện thực mà xa xôi xa vắng đơn thân để nhà thơ chỉ biết ngồi nghe Âmvọng tiếng chim… trong hư hao tiếc nuối.
Thơ của Tăng Tấn Tài là thơ của một người sinh ra từ gốc rạ chân quê. Anh không viết về làng quê, ruộngđồng mà anh viết như một người trongcuộc, một người nông dân đứng trên ruộng cày để làm thơ. Cho nên cáichất “chân quê” từ trong máu thịt bật ra trong thơ. Lòng tràn ngập niềm vuikhi lúa trổ đòng đòng: Dịu dàng lúa hát cơn mưa/ Ngọt ngào hạt nhỏ ngậmvừa núm quê/ Đường bừa quen lối mẩn mê/ Mắt trâu bùn đất đi về, tới lui. Viết về cơn mưa bụi rây buổi chiều đông trong một niềm vui nho nhỏ mà ấm áp tình người: Ngọt trên ngọn gió cánh đồng đơm xanh/ Buồng cau xanh mãn chuối già/ Ủ hương lửa ấm cháy da. Chỉ có những người gắn bó sâu nặng mới cảm nhận chất “ngọt” của cơn gió trong mưa bụi, hương được ủ kín trong ngọn lửa ấm chiều đông; mới nhớ Phơi dấu chân trâu đồng quê nứt nẻ… nhớ như in còn dấu bãi trâu nằm; mới phát hiện những hình ảnh: Gió mùa đông bắc, lật tàu chuối xanh. Tóc thề ngột gió bờ tre, Quảy chiều nắng lệch hai vai/ Sóng vầng trăng lạc/ trải dài bóng nhau (Heo may chớm mùa).
Sống, gắn bó với làng mạc ruộng đồng anh mới thấm cuộc sống cơkhổ như người mẹ chân lấm tay bùn, suốt cả cuộc đời bấp bênh để “vay trả” vì “nợ mưa nợ nắng”. Mùa lúa chín thì cầu mong trời đừng mưa lũ, lúa chưa kịp về nhà mong trời nắng để kịp lúa phơi. Thời tiết hạn hán thì lạy trời mưa Mống giăng ngũ sắc/ Nợ mưa trả dần. Và chính nỗi trầm luân trải nghiệm nỗi đau vay trả ấy của mẹ đã đè nặng một cách sâu thẳm trong tâm hồn thơ của anh, với Nhân gian một cõi nợ vay, với quê hương cũng vậy: Dặn lòng/ bến đỗ/ nợ vương suốt đời, kể cả trong tình yêu: Mắt chong sao lạc/ Tình vay cuối chiều. Thơ của Tăng Tấn Tài nhẹ mà chân thành, giản dị nhưng không hề dễ dãi mà luôn thể hiện bằng ngôn ngữ đầy chất thơ. Ví như để diễn tả cuộc sống của người nông dân phải dậy sớm khi trời còn mờ mờ để ra đồng cho đến khi trời chạng vạng tối, bất kể ngày mưa hay nắng, anh viết: Tiếng gà gọi sáng nắng mưa/ Hai vai đã tính gánh vừa giấc khuya… Đơn giản tả niềm vui khi con gà đẻ trứng, viết: Ổ rơm, gà hát mái tranh/ Nụ vui mẹ đếm trứng vành vạnh thơm… Những câu thơ như thế không dễ viết, tả một sự việc quá đỗi bình thường, dễ bị sa vào kể lể nhạt nhẽo nhưng câu thơ đã thấy vang vọng một âm hưởng “gà hát mái tranh”, “đếm trứng vành vạnh thơm” của hạnh phúc bé nhỏ mà tha thiết, khấp khởi trong lòng người mẹ nghèo khó. Có thấm sâu được lòng mẹ, mới hiểu được những quả trứng tròn “vành vạnh” tỏa hương thơm như thế nào, cảm giác nâng niu bất chợt của chờ đợi, hi vọng.
Bức tranh quê của Tiếng chim trên dòng Vu Gia, hình bóng của người mẹ in đậm trong thơ như một nỗi niềm da diết. Đó là một người mẹ chịu thương khó, tần tảo nắng mưa với ruộng đồng: Rã rời, nứt kẽ chân tay/ Dăm ba sào ruộng nắng dày tóc phai. Kể cả khi về già, nỗi cơ cực đeo đuổi, nỗi riêng cũng lắm điều đau khổ: Tuổi già bóng mẹ gió phiêu/ Sóng xô bên lở lắm điều thị phi/ Áo tơi, mưa gió cũng đi/ Đường trơn, chân mẹ chai lỳ đã quen (Chịu đựng). Mẹ chỉ có một mình Tăng Tấn Tài là con trai, cha lấy thêm người vợ khác. Bao nhiêu tình cảm yêu thương, lo lắng mẹ dành hết cho anh. Trong thơ, Tăng Tấn Tài đã viết về mẹ bằng một nỗi tưởng nhớ vô cùng trân trọng, ơn sâu nghĩa nặng khó trả hết được. Anh đã vắt cạn lòng mình để viết những dòng thơ tâm huyết dâng mẹ: Con nhớ đôi bàn chân mẹ/ Cứ ngược cơn mưa/ Bước ngang đi tới/ Quảy đôi vai/ Chen bước thời gian/ Quảy trong giấc mơ/ Cho đôi tay con vững/ Cho chân con cứng cáp… (Hơi ấm một vòng tay)… Những câu thơ thô ráp thấm đẫm mạnh mẽ khắc họa một hình ảnh mẹ lặng lẽ, âm thầm trong gian khó nhưng lộng lẫy như một tượng đài non cao vời vợi. Viết về mẹ dễ bị sáo mòn và lặp lại người khác, trong thơ Tăng Tấn Tài, người mẹ không chỉ được nhắc đến trong đời thường, cuộc sống luôn phải Quảy đôi vai/ Chen bước thời gian rồi được nâng lên bằng một sức vọng mới, hình tượng thơ được đẩy đi xa hơn: Quảy trong giấc mơ. Giấc mơ của đời mẹ nhưng cũng là giấc mơ của đời con…
Một lần, bài thơ Hơi ấm một vòng tay anh viết về mẹ rất xúc động bằng một kỷ niệm đắng đót mà yêu thương. Cuộc sống Thời sinh viên Sài Gòn/ Một thằng nhà quê vì nghèo, xa nhà phải đi dạy kèm để xoay xở, anh phải gói ghém dành dụm để Gói gắm cho mẹ một tấm lụa thị thành mà thật tội nghiệp. Mẹ chỉ cất giữ mãi sau mẹ mới chịu may thành chiếc áo dài/ Có dịp đi đâu, đi đâu,… để rồi sau này khi mẹ mất, đêm đêm trong nỗi nhớ về mẹ giữa hương thơm của trầm hương trong ngày giỗ của người, vẫn kiếm tìm hình bóng cũ: Cứ về đêm/ Vuông vải lụa tràn thơm hơi mẹ… Cứ dâng lên/ Nỗi nhớ một vòng tay. Trong thơ của Tăng Tấn Tài, những hồi ức luôn mang lại cho nhà thơ những mất mát, tiếc nuối của một thời. Trong thơ anh hay nhắc đến “màu hao khuyết” như một sự thức tỉnh của niềm cô đơn sâu thẳm của người ở lại bơ vơ giữa trần gian khi những gì thân yêu nhất đã bỏ ta mà đi. Đó là vầng trăng hao khuyết của những mối tình ngày mới lớn đã thăm thẳm chia lìa: Thời tiết nhận phần hao khuyết/ Sót mảnh trăng tươi vết xước bình minh của cái thời mới lớn… Bước chân xa nhau cứ mỏi/ Dặm trường hao khuyết một bên/ Ánh trăng mờ soi dấu hỏi… Màu hao khuyết là một bài thơ bày tỏ nỗi lòng của tác giả như gói ghém những hoài cảm về những người thân yêu, quãng thời gian đã qua đi. Nhớ lại những năm tháng mùa màng thất bát: Thời gian hao khuyết từng giờ/ Bán mua hao khuyết trông chờ tới lui… Tháng Chạp vừa khuyết Giêng hai/ Ra đi thả bóng dặm dài tháng năm/
Ruộng đồng, đầy khuyết mùa đong và khuyết cả trong những rung động đầu đời của tình yêu đôi lứa: Mắt đong ánh mắt/ khuyết điều gì đây. Khuyết cả trong vòng tay âu lo, một chỗ nằm bên mẹ: Tiếng khuya, hao khuyết vầng trăng/ Ngậm vành hao khuyết, thăng bằng bóng đêm… Với hơn 40 năm gắn bó với nghề giáo, Tăng Tấn Tài là một giáo viên dạy Toán uy tín được đồng nghiệp quý trọng và tin yêu, anh cũng dành thời gian nhiều cho thơ. Tiếng chim trên dòng Vu Gia là tập thơ thứ ba của anh. Trước đây anh đã xuất bản hai tập thơ: Khoảng lặng (NXB Văn Học, 2014) và Gió trên vai (NXB Văn Học, 2016). Riêng tập thơ Tiếng chim trên dòng Vu Gia, anh định in 136 bài nhưng sau đó lại rút lại 65 bài, bỏ hết một nửa số bài. Hỏi anh, anh bảo để tinh tuyển lại cho phù hợp, bỏ bớt những bài viết chưa tới… Rõ ràng, Tăng Tấn Tài luôn thể hiện một thái độ tôn trọng bạn đọc, văn chương chữ nghĩa với anh không thể xuề xòa. Người ta cứ nghĩ, dân Toán thiên về tư duy lý tính, thơ lại thiên về cảm xúc, tình cảm nhưng trong thơ Tăng Tấn Tài luôn ngập tràn cảm xúc, anh viết về lớp cũ trường xưa mênh mang nỗi u hoài: Những ngày hè chia xa phượng còn thắm đỏ/ Tóc trắng dày thêm bụi phấn cứ rơi rơi… Em vẫn hoài xa, chiều vẫn mây trôi/ Gốc phượng cỗi, dòng chữ ôm phai mực/ Tháng Bảy ngây thơ, mùa cứ về thao thức/ Lời hẹn bâng quơ, thương nhớ vụng về… Tiếng chim trên dòng Vu Gia vẫn có một số bài về mặt cấu tứ còn chưa rõ ràng, ngôn ngữ thơ đôi khi dàn trải, lan man. Đọc thơ Tăng Tấn Tài, vẫn thấy man mác một nỗi buồn thương từ biến động của đời sống bởi sự vắng bóng của những người thân yêu. Quê hương trong văn học đã quá nhiều người viết nhưng với Tăng Tấn Tài vẫn có những nét riêng, những hình ảnh sống động thực tế khắc họa đậm nét bức tranh nông thôn một cách da diết yêu thương, ấm áp tình người. Vì thế, thơ anh luôn để lại niềm xúc động trong lòng người đọc, có thêm niềm yêu mến với một vùng quê hiền hòa bên dòng Vu Gia…
HSB
Ảnh đại diện: Phan Hải Linh
