THU VŨ
Kiều khóc và giọt nước mắt của Kiều. Trong đời Kiều với mười lăm năm giang hồ lưu lạc, Thúy Kiều khóc nhiều lần, nhưng ba lần khóc có ý nghĩa xoay trở hiện thực đời Kiều. Ba lần khóc không giống nhau chút nào. Phải chăng Kiều khóc, nàng muốn rằng giọt nước mắt có ý nghĩa trong mỗi lần nước mắt rơi. Mỗi lần Kiều rơi nước mắt là mỗi lần trong Kiều đã dậy lên nỗi lòng u uất riêng tư. Ý nghĩa của những lần khóc trong đời Kiều gắn liền với thân phận tài hoa mà một đời người sắc nước hương trời như Kiều phải đa mang.
1. Bên mả Đạm Tiên, Thúy Kiều ngỡ ngàng cho thân phận tài hoa mà bạc mệnh, nghĩ mình cũng thấy thương mình vậy, nên Kiều khóc Đạm Tiên:
Lòng đâu sẵn mối thương tâm
Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa.
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Trước mả Đạm Tiên, Kiều khóc “đầm đầm châu sa”, ấy là cái khóc tức tưởi, khóc xót thương thân phận tài hoa mà bạc mệnh. Phải chăng Kiều khóc cho Kiều, nhưng những giọt nước mắt này, Thúy Vân – em Kiều – lại phản đối:
Vân rằng: – Chị cũng nực cười
Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa!
Kiều khóc “đầm đầm châu sa”, giọt nước như giọt châu, quý giá. Ở vào cái tuổi mười lăm, mười bảy này khóc là khóc cho thân phận đàn bà mà lời bạc mệnh của những người con gái tài hoa trên đời này, ấy là lời chung. Khóc ở tuổi bướm hoa, tuổi vào đời, tuổi yêu thương.
2. Lần thứ hai Kiều khóc, cũng bao nhiêu lần khóc cho mười lăm năm lưu lạc, nhưng đây là lần Kiều khóc bắt đầu cho thân phận lầu xanh của mình. Kiều khóc vì mối tình không trọn vẹn cùng Kim Trọng. Khóc nhớ thương không chỉ cho vơi đi sầu khổ mà lần này Kiều khóc “đầm đầm châu sa”. Giọt nước mắt bây giờ không là châu nữa mà trào ra, ức nghẹn triền miên, xót xa, đau đớn trong sự chia xa với chàng Kim.
Niềm riêng riêng những bàng hoàng
Dầu chong trắng đĩa, lệ tràn thấm khăn.
Giọt nước mắt bây giờ có còn quý giá nữa chăng, có là giọt châu sa xuống nữa không hay chỉ là “lệ tràn thấm khăn” như nỗi đau đã thấm vào lòng. Khóc bây giờ là khóc biểu hiện của sự chia ly, nỗi riêng của Kiều mà dường như ở Kiều có xót đau đến tận cùng của sự chia cách. Kiều khóc suốt đêm bên dầu chong trắng đĩa. Giọt lệ này là giọt lệ tình yêu Kiều dành cho Kim Trọng. Chỉ có khóc cho tình yêu tan vỡ mới là lệ thật sự, là lệ ái ân thấm khăn cho vơi đi những mất mát trong lòng. Không cùng chàng Kim được, nàng Kiều phút chốc bỗng cô đơn mà đời nàng chưa biết đến phải nhận lãnh, cho nên lần này Kiều không khóc đầm đầm châu sa mà khóc lệ tràn ra mang theo cảm xúc đau đớn, dằn vặt kéo dài.
3. Sau lần khóc dứt tình Kim Trọng, Kiều ra đi, bao nhiêu yêu thương nhung nhớ Kiều hy vọng gởi lại nơi em – nàng Vân thay mình chắp nối cùng Kim. Lần thứ ba Kiều khóc cũng không giống hai lần trước Kiều đã khóc lớn trong đời. Gặp Từ Hải, nàng hy vọng và mơ ước, …lúc nào đó sẽ trở lại quê hương. Dẫu sao cũng yên ổn là một phu nhân. Nhưng trớ trêu thay, không như Kiều mơ ước. Một lần nữa Kiều khóc, lần này khóc cho Từ Hải. Lúc này khóc Từ, Kiều không thể “đầm đầm châu sa”, cũng không là “lệ tràn thấm khăn” nữa, mà:
Dòng thu như xối cơn sầu
Dòng thu có lẽ là buồn lắm, Kiều đau đớn lắm, mất mát và tuyệt vọng. Dòng thu lai láng, như xối xuống, như mưa thu sùi sụt. Bấy giờ Kiều khóc như chưa bao giờ được khóc. Khóc trong cơn đau tuyệt vọng. Khóc như thế là khóc xối xả, triền miên, dòng thu xối xuống bao nhiêu chính là nỗi sầu tan nát và hoàn toàn đổ vỡ bấy nhiêu.
Cứ mỗi lần Kiều gặp oan trái ở đời là một lần Kiều khóc, không khóc giống nhau. Mỗi lần khóc là mỗi lần biểu hiện một trạng thái tâm lý của nỗi đau mất mát. Giọt nước mắt chỉ là hiện tượng sinh thái nhưng vào hoàn cảnh này mỗi lần khóc là mỗi lần đau đớn, thay đổi hiện thực đời Kiều.
Thế còn câu lục bát gãy đôi là sao? Trong hoàn cảnh nào đó An Thuyên bảo: chặt đôi câu thơ, bẻ đôi câu thơ tôi làm mái chèo lướt sóng đưa tôi về với người tôi yêu. Là sự biểu hiện tâm lý trong nỗi đau hụt hẫng? Thúy Kiều khóc ba lần không lần nào giống lần nào, cả giọt nước mắt cũng không giống gì nhau. Điều nhận ra câu lục bát gãy đôi là thể hiện hai tâm lý trước – sau của nàng Kiều – của câu thơ tôi vừa đọc.
Nàng đã yêu rồi vào thời mười lăm, mười bảy, tuổi yêu đương này tâm lý thể hiện giống như nhiều cô gái khác. Kiều cũng mơ ước một văn nhân tài hoa, trí thức. Lý tưởng cuộc đời phải đẹp, phải phong nhã, càng phải là một đấng nam nhi. Kiều mơ ước vậy Nguyễn Du đã đáp ứng được cho Kiều, đã cho Kim Trọng chinh phục được nàng Kiều khi lần đầu mới gặp. Nhưng Kiều không nhìn thấy được khuôn mặt chàng Kim. Cảm xúc là cho tâm lý thẹn thùng nên Kiều không dám nhìn vào mặt Kim Trọng, chỉ biết rằng đó là một văn nhân nho nhã.
Trông chừng thấy một văn nhân
Lỏng buông tay khấu bước lần dặm băng
Đề huề lưng túi gió trăng
Sau chân theo một vài thằng con con
Tuyết in trắng ngựa câu giòn
Cỏ pha màu áo nhuộm non da trời.
Ngày xưa con gái yêu ai đâu dám nhìn thẳng mặt chàng trai, chỉ thoảng qua giọng nói, dáng điệu của chàng thôi là đủ. Con gái thời yêu thương mà dám nhìn vào mặt chàng trai là không thể. Ngượng đến ngàn lần! Nàng yêu chàng cùng với không gian mùa xuân quả là đẹp lại điểm thêm màu trắng, với xanh non là hài hòa đẹp quá. Nàng Kiều bắt được hình ảnh này và đây quả là người nàng ao ước. Tâm lý vào tuổi mười lăm, mười bảy đã bị khuất phục, khi mà:
Nẻo xa mới tỏ mặt người
Khách đà xuống ngựa tới nơi tự tình.
Là anh chàng thư sinh lịch lãm khi mà người con gái thời của nàng đâu dễ sánh ngang, vậy mà từ xa chàng đà xuống ngựa quả là cảm xúc bắt gặp tình yêu dâng tràn lên với nỗi tin yêu, thật đáng ngưỡng mộ. Lịch sự và trân trọng.
Hài văn lần bước dặm xanh
Một vùng như thể cây quỳnh cành dao.
Không dám nhìn thẳng thì nhìn vào đâu bây giờ cho bớt thẹn thùng, khi tâm lý đang yêu ở vào thời buổi xuân xanh. Thế nên tâm lý dồn lên chỉ một cách rằng ngó lơ giống như người em gái chân quê yêu chàng nhưng không nhìn thẳng vào mặt để nhận diện dung nhan: “Đưa tay bứt lấy lá ngò/ Yêu anh đứt ruột em giả đò ngó lơ”. Kiều cũng ngó lơ kiểu ấy nên e lệ nấp vào dưới hoa và chắc rằng khi ấy nàng nhìn xuống đất, dễ chừng văn nhân đang thong thả từng bước, bước tới. Điều này cũng dễ hiểu, bởi lẽ con gái thời buổi ấy tâm lý dồn nén, dùng dằng nữa nuốn nữa không, nên ngó lơ là an toàn hơn cả. Người ta thấy tâm lý nàng Kiều đang diễn biến sâu sắc theo tình cảnh, chỉ nhìn dáng vẻ bề ngoài thôi là vừa ý rồi. Kim đã chinh phục được Kiều nhờ vào không gian dịu dàng của tiết thanh minh và tác phong thư sinh nho nhã của Kim. Kiều đã phải lòng.
Câu lục bát đi được nửa đường để đưa tôi về với người tôi yêu. Bấy giờ đã chặt đôi câu thơ, bẻ đôi câu thơ rồi. Thế nên có gì đó lưu luyến chưa về khi:
Bóng tà như giục cơn buồn
Khách đà lên ngựa người còn ghé theo
Dưới cầu nước chảy trong veo
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha.
Vậy đấy, thế nên khi đọc câu thơ: “Khóc với Kiều, câu lục bát gãy đôi” ta không rõ mặt mày Kim Trọng mà chỉ hay rằng có một anh chàng thanh lịch, văn hoa đã chiếm đoạt tâm lý nàng Kiều ngay từ phút đầu gặp gỡ.
Đến bây giờ cho dù có chặt đôi câu thơ, bẻ đôi câu thơ để làm mái chèo lướt sóng đưa ta về với người ta yêu cũng không thể. Câu lục bát gãy đôi rồi! Kiều bây giờ mới nghĩ rằng khi đã ngoài ba mươi xuân, Kiều đã liều mặt phấn cho rồi ngày xanh. Rồi một lần nữa, Kiều gặp tình yêu. Bấy giờ cuộc sống thực tế phủ phàng đã dạy khôn Kiều. Hình ảnh văn nhân, hào hoa phong nhã ở Kim Trọng ngày xưa đâu chắc Kiều còn mơ ước. Chắc gì Kim có thể che chở cho Kiều trong những lúc buồn đau chín cả ruột gan. Bấy giờ Kiều già dặn, đã có kinh nghiệm sau nhiều năm trăn trở với đời. Từ Hải xuất hiện và lọt vào mắt xanh của Kiều không phải là một văn nhân mà là một kẻ biên đình. Tâm lý nàng Kiều già dặn hơn, mạnh dạn hơn, tự tin hơn, không còn e lệ thời mười lăm, mười bảy nữa nên không nấp vào dưới hoa. Gặp Từ nàng
nhìn thẳng vào khuôn mặt của chàng, mới thấy một khuôn mặt tuyệt vời:
Lần thâu gió mát trăng thanh
Bỗng đâu có khách biên đình sang chơi
Râu hùm, hàm én, mày ngài
Vai năm tấc rộng, thân mười thước cao.
…
Giang hồ quen thói vẫy vùng
Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo.
Đây là con người thật sự che chở cho nàng. Bấy giờ diện mạo, y phục, đôi hia… không phải điều làm cho Kiều rung động. Tâm lý nàng đã biến đổi! Đây mới là hiện thực sống động để gởi gắm mối tình. Điều mà Kiều ao ước sau gần mười lăm năm lưu lạc.
Tâm lý nàng biến đổi, không ngây thơ viễn vông, ước ao như ngày nào mà Từ đã làm Kiều chuyển biến trong suy nghĩ và hành động.
Câu lục bát đã gãy đôi rồi, cho dù bẻ đôi câu thơ mà làm mái chèo lướt sóng cũng không thể đưa ta về với người ta yêu nữa rồi như câu thơ tôi đã đọc./. TV
