TRẦN TRUNG SÁNG
Bút ký của Cẩm Lệ
“Sẽ không kể cùng ai nỗi khó
Dù bao năm trên cao nguyên đất đỏ
Mà sẽ kể cùng ai nỗi nhớ
Những buôn làng tên đất đã đi qua”.
Tác giả Cẩm Lệ đã mở đầu tập bút ký “Không có chỗ an nhàn” (NXB Hội Nhà văn 2023) của mình như vậy, để hồi tưởng về những tháng năm trai trẻ khi anh vừa tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn về nhận nhiệm vụ dạy học tại vùng đồi núi cao nguyên Đắk Lắk, vào thời điểm những năm đầu sau ngày thống nhất đất nước.
Tập bút ký “Không có chỗ an nhàn” được hoàn thành tại một Trại sáng tác Vũng Tàu, sau mấy chục năm tác giả trải nghiệm và viết lại. Vì vậy, qua hơn 200 trang sách, có thể nói đó là những gì đọng lại trong tâm thức tác giả sâu sắc nhất, ấn tượng nhất, cảm xúc nhất… về một miền đất ngày nào còn rất hoang sơ, cần sự đóng góp xây dựng của những bàn tay năng nổ, không ngại khó của lớp trẻ từ mọi mặt.
Ngày ấy, vào lúc hai giờ chiều, tháng 2 năm 1977, tại bến xe Buôn Ma Thuột gió bụi mù mù, 67 giáo sinh từ trường Cao đẳng Sư phạm Quy Nhơn lần đầu đặt chân lên cao nguyên đất đỏ. Nơi ấy, họ chưa hiểu nhiều về miền đất này, ngoại trừ các trang tư liệu về Tây Nguyên khi ngồi ghế nhà trường, rằng Buôn Ma Thuột đấy là tên một buôn của đồng bào người Ê Đê Kpăp. Người Pháp sau khi chiếm được Việt Nam, bình định được Tây Nguyên bắt đầu xây dựng bộ máy cai trị… Và giờ đây, những giáo sinh lên Đắk Lắk, cần phải biết rằng ngành giáo dục của tỉnh sau 1975 đang phục hồi; chủ trương của ngành là mở lớp tận buôn làng xa xôi, đặc biệt là các vùng kinh tế mới vừa được xây dựng. Cụ thể hơn nữa: “Phải góp tay vào làm mọi chuyện đấy, vực giáo dục Đắk Lắk lên chứ không riêng gì lên lớp đâu”. Bản thân người viết (nhân vật Hoàng) phải lên xe thồ tìm về trường Ea Tiêu, tức Hoa Dung thuộc làng Trung, nơi mà người lái xe cho biết: “Một nửa đường do mình kiểm soát, còn một nửa đường trong đó Fulro làm chủ, xe tôi không dám vào”… Tuy nhiên, với tinh thần tự nguyện, muốn tìm một cái gì mới lạ ở núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ, nhất là khi đang học ở nhà trường, có lần được nghe anh hùng Đinh Hơ Núp và chú Y Ngông Niê đến nói chuyện, động viên, kêu gọi giáo sinh nên lên Tây Nguyên xóa mù chữ cho con em trên ấy.
Thế rồi… Hoàng đã xốc ba lô lên vai, bước vào khoảng sân trường cỏ đan dày nhưng lại khô héo tự hồi nào. Cứ thế, thời gian dần trôi qua. Từ trên bục giảng nhìn xuống, Hoàng cảm nhận được hạnh phúc tràn đầy, thật giản dị và không thể nào ngờ những đôi mắt sáng nhìn lên ngơ ngác, đợi chờ. Đấy là hạnh phúc đầu tiên trên bục giảng. Rồi chuyện Fulro bắn phá, chuyện bệnh tật ở vùng núi non thiếu thốn thuốc men, thiếu nước sinh hoạt… Những mẩu chuyện buồn vui nho nhỏ như vậy, được tác giả kể lại thành các tiêu đề thú vị như: Đến với cao nguyên, Dưới cành phượng vĩ, Chuyện đường rừng, Suối giáo viên, Trên nông trường Ea Knũl, những trang thơ…
Trong con mắt của người thầy giáo trẻ ngày ấy, luôn đọng lại trong ký ức những hình ảnh không phai nhạt: “Trưa tháng Sáu, nắng rọi vào rừng sâu, chim muông hối hả gọi nhau lẩn tránh cơn mưa giông xối xả, trút lá bẻ cành. Vậy là mưa rừng về, không hẹn. Từ tháng ba, mùa con ong đi lấy mật, mùa làm nương chè đất ươm ngô mưa đã về rồi, nói chi đến tháng Sáu này, là giữa mùa mưa nên mưa hãy còn trút xuống, rồi nắng lên. Cứ thế! Mấy ngày đầu lao động, chân tay ai nấy phồng lên. Rừng rậm, dày, gai mắc cỡ đan chằng chịt không khéo thì xước cả tay chân.
Sau cơn mưa buổi trưa, đường đất khô quánh lại chạy dài chia hai trái đồi dốc đứng. Trên đường đi ra hiện trường hôm ấy, đâu đây tiếng hát gợi tình của mấy anh Ê Đê lại vang lên…” (tr.121); hoặc: “Con dốc không cao nhưng lại dài hơn 500 mét, nước từ buôn Niệt, buôn Jung đổ về suối những khi có mưa lớn, tạo nên những đường rãnh sâu hoắm. Xa xa từ những nóc nhà dài của mgười Ê Đê đứng im lìm ngủ trong đêm vắng. Một vài người dân Ê Đê cần cù thăm rẫy đuổi thú rừng phá nương còn thức đến khuya. Một hòn than sáng hừng lên trong gió cứ di chuyển đều đều theo bước chân dài ra nương rẫy. Chốc chốc lại có tiếng mõ gõ gọn lỏn, sắc đục xoáy ngang vào trời đêm yên ắng. Tiếng rì rào của cây kơ nia, cây ké rờn rợn như đánh lạc bước chân người…” (tr.167).
Thế rồi, vào một ngày cuối hạ, chuyến xe ca tốc hành từ Buôn Ma Thuột đổ đèo Phượng Hoàng – M’Drak xuôi về phố biển Nha Trang. Không ngờ đó là lần cuối cuộc hành trình tác giả rời khỏi Buôn Ma Thuột… Bởi sau lần đó, do bệnh tật, đau ốm liên miên, nên tác giả không thể nào trở lại miền cao nguyên nắng gió ấy. Dù những buôn làng, tên đất đi qua vẫn hiện về trong trí nhớ nhỏ nhoi của anh. Nơi ấy, làng Trung với từng căn phòng, lớp học với những khuôn mặt quen thân Y Đi, Hreo, Y Bếch, Y Đo, HLững… Nhớ khu nhà nội trú, dãy hành lang mỗi lần chuyện vãn với bạn bè, đồng nghiệp. Sân trường, nước đọng, bụi bặm, đất đỏ dẻo sền…, để rồi không ngớt băn khoăn tự hỏi: “Khi nào trở lại làng Trung?”.
TTS
Trên nông trường Êa Knũl
Trích trong tập bút ký:
“Không có chỗ an nhàn” của Cẩm Lệ
Đêm Vũng Tàu mưa, những hạt mưa xiên ngang rơi xuống lòng đường, bong bóng nước nổi lên long lanh kéo nhau chạy một đoạn xa rồi biến mất trong làn mưa mỏng. Linh Hoa đi bên Hoàng đòi nghe chuyện của Hoàng những năm ở Buôn Mê.
Kể nghe anh ! Chuyện gì nà ? Chuyện của anh ! Của anh? Em nghe được không ? Được mà!
Đầu tháng sáu, Tây nguyên trời nắng gay gắt, từng đốm lửa dội xuống đầu. Ban trưa trông yên tĩnh lạ, bầu trời không một gợn mây, trong suốt xanh thăm thẳm. Cây lá rũ xuống. Tây nguyên mùa này cũng là mùa nương rẫy, trời đang nắng chát, có khi lại ụp xuống một cơn mưa bất thường, mưa xuyên quá nửa đêm, đến sáng mai trời lại nắng. Cứ thế, kéo dài hết cả mùa nương rẫy.
Đầu mùa hạ, trước khi nghỉ nắng, trường Ea Tiêu theo chủ trương của Ty Giáo dục, đi lao động mười lăm ngày tại nông trường Êa Knũl. Ngày sáu tháng sáu năm bảy tám lên đường. Biên chế mỗi trường là một đơn vị. Dụng cụ lao động mang theo trong đợt này thật lỉnh kỉnh để làm cho ra một cái lán mà ở trong mười lăm ngày lao động này. Nào gạo, bắp, soong, nồi, dây chạc…tất cả phải được chuẩn bị và phân công cụ thể, chu đáo, kể cả mọi thứ cần dùng cho cá nhân nữa.
Lao động đợt đầu hè lần này mục đích phát rừng dọn đất trồng bắp, sắn và đậu các loại. Tăng gia sản xuất lương thực vẫn là khâu quan trọng, là công việc hàng đầu. Không ngành nào không tăng gia sản xuất. Vì thế mà tập trung lại bạt rừng lấy đất ươm ngô là nhiệm vụ chiến lược giữ vững an ninh lương thực.
Vậy là lên đường.
Là đợt lao động thứ nhất nên chủ yếu mang theo mác, búa, rìu, cà gạc, cưa nhằm phát rừng, dọn sạch lấy đất ươm ngô. Chuyến Êa Tiêu khởi hành có lẽ là chuyến thứ sáu hay bảy gì đấy của Phòng Giáo dục thị xã Buôn Ma Thuột. Đơn vị Êa Tiêu và Hoa Đông cùng lên một chuyến xe. Chiếc xe chở hai đơn vị là không còn chỗ ngồi, đã chật chội vì người mà còn bừa bộn dụng cụ. Dưới trời nắng gắt, xe chuyển bánh rời khỏi thị xã, cứ hướng Tây mà tới. Xe ra khỏi thị xã một hồi lâu, rẽ vào đường rừng. Trời ơi, bụi ơi là bụi! Bụi đỏ phủ lên đầu, lên cổ. Xe chạy chậm vì đường gập ghềnh, bụi càng bám lên theo. Đường đất rất mịn, một lớp dày. Trên xe ai cũng bụm miệng để thở. Xe chao đảo gập ghềnh. Một ai đó trên xe nói:
– Trời nắng thế này, lao động thì phải biết, cháy cả lưng đấy bà con ạ.
Một giọng nữ nói với theo:
– Thì vui chứ sao, anh. Lâu lắm nay mới cầm lại cái cuốc mà. Đi cuối mùa mưa thì ướt không nơi ngủ, sướng gì.
Xe cứ vậy mà chạy vào rừng, qua thung lũng, nhắm Êa Knũl mà tới.
Đột nhiên xe dừng lại giữa một khu đất trống giữa cánh rừng, phía dưới là con suối nhỏ nước trong veo. Mọi người nhảy xuống xe. Gió thổi. Cánh rừng già xào xạc. Trời đã đứng trưa. Nắng. Trong rừng mùa này bức lắm, cứ hừng hực. Rừng toàn cây lá to, cây dầu chen kẽ với cây bụi, dây leo chằng chịt. Đúng là rừng nhiệt đới rậm rịt. Nghỉ một lát, Ban chỉ huy nông trường chia khu vực dựng lều lán để ở. Êa Tiêu nhận đất xong là bắt tay ngay vào công việc cho một cái lán kiên cố vừa che được nắng, trú được mưa. Lán làm toàn bằng nứa, le và cây rừng, cả nơi nằm nghỉ đêm cũng được gác bằng le và lót lá rừng, mới trông như một cái ổ. Cả buổi chiều hôm ấy cứ phải bận rộn dựng lán trại, chặt cây trên rừng, le, nứa, lá. Ở đâu cũng tấp nập như thế, lại vì cả nông trường vào đợt đông người nên phải vào sâu trong rừng mới có vật liệu, kể cả cành khô làm củi đun cũng trở nên khan. Được cái thú vị là Ea Tiêu dựng lán ngay bên cạnh giòng suối, Hoa Đông đối diện với Êa Tiêu, giữa là chiếc cầu bằng cây rừng vừa mới bắc ngang nhịp nhàng qua suối. Những cái lán trại xinh xắn tựa lưng vào thiên nhiên với những dây leo to tướng cả người ôm không hết. Lán được mắc vào những sợi dây leo ấy. Người và thiên nhiên hoà điệu trong một trật tự lớn như thế là vui rồi.
Cả buổi chiều nơi khu rừng rậm, tiếng cây đổ ào ào, rồi tiếng gọi nhau của mọi người cứ mãi vang lên. Êa Tiêu cũng hoàn thành xong lán của mình, kịp tối hôm ấy có nơi hoà nhập vào nông trường để hôm sau vào việc.
Trời bắt đầu sẫm tối, ở rừng trời tối rất nhanh, cứ mặt trời khuất rừng là sâm sẫm tối, mặc dầu phía Bản Đôn còn thấy hừng lên một chút nắng chiều. Châu Văn vừa nhóm lửa lên cho Thọ nấu cơm tối rồi đến ngồi bên Hoàng và Thanh, trên chiếc cầu treo rung rinh bằng nứa. Thả chân khuấy nước dưới suối, Châu Văn nói:
– Chắc còn con sào nữa là mặt trời khuất núi, đêm nay mình ngủ rừng rồi.
Mà thật, Châu Văn ngả lưng xuống cầu treo, đêm nay ngủ rừng, đấy là nhánh rừng của Trường Sơn Nam, thoai thoải dần về phía đông tạo nên cao nguyên DăkLăk tiếp với đồng bằng Tuy Hoà – Phú Khánh. Trong lán ai đã đốt đèn lên. Bay trong tiếng gió, dường như thỉnh thoảng nghe được tiếng nai giác gọi bầy đơn độc. Mỗi lần nghe lại thấy cồn lên nỗi nhớ gì đấy, không tên da diết. Cả ngàn đêm rồi, con nai, con hoẵng không nhà, không cửa, tiếng tác…tác… của con mang đâu đó từ rừng núi vọng về khu nông trường sao mà bồn chồn đến thế.
Châu Văn thở một hơi dài, quay sang phía Hoàng và Thanh:
– Hai cậu đã nhớ nhà chưa, nhớ mẹ không?
Hai chân Thanh cứ đẩy đưa trong nước suối:
– Nhớ chứ, nhưng mà khoan, hãy xong việc đã. Bọn mình xa nhà đã bốn năm rồi còn gì.
Bất chợt bên lán Hoa Đông, Liên cười xen sang, giọng Huế pha với Tây nguyên:
– Này, Hoàng nhớ thì nhớ chớ, bên tui có cô Phố quê ở Quảng Nam vô, qua đây mà làm quen, hết mệt liền.
Tiếng róc rách của suối nghe rõ dần. Đêm xuống lâu rồi. Sương đậu trên ngọn lá từng giọt.
Trưa tháng Sáu, nắng rọi vào rừng sâu, chim muông hối hả gọi nhau lẩn tránh cơn mưa giông xối xả, trút lá bẻ cành. Vậy là mưa rừng về, không hẹn. Từ tháng Ba, mùa con ong đi lấy mật, mùa làm nương chẻ đất ươm ngô mưa đã về rồi, nói chi đến tháng Sáu này, là giữa mùa mưa nên mưa hãy còn trút xuống, rồi nắng lên. Cứ thế! Mấy ngày đầu lao động, chân tay ai nấy phồng lên. Rừng rậm, dày, gai mắc cỡ đan chằng chịt không khéo thì xước cả tay chân. Sau cơn mưa buổi trưa, đường đất khô quánh lại chạy dài chia hai trái đồi dốc đứng. Trên đường đi ra hiện trường hôm ấy, đâu đây tiếng hát gợi tình của mấy anh Ê đê lại vang lên. Họ hát eirei, làn điệu k’ứt hoặc hát dô khi cất lên điệu eirei có tự sự vui buồn, có tươi vui hóm hỉnh và chỉ khi đông người mấy anh chị Ê đê mới hát eirei. Do hát trong đám đông nên có hát đối đáp nam – nữ, là lúc xuất thần mà yang không bày vẻ cho là không sao hát được. Và mặc dầu anh em Ê đê hò hát theo làm điệu nào vẫn có lúc tự sự trữ tình, lúc trải lòng lai láng.
Đêm thứ ba ở lán trên rừng, lâu rồi cũng quen, mọi người thấm mệt say ngủ cả. Đêm lẻ loi trong thanh vắng cùng tiếng nỉ non của côn trùng và giun dế. Cứ mỗi đêm vẫn thường nghe tiếng gọi bầy của con nai, con hoẵng, tiếng tác…tác…khô khan từ rừng xa đâu đó vọng về. Phố ngồi bên Hoàng, trên cây cầu gập ghềnh lắt lẻo, dưới cầu là con suối nước cứ róc rách chảy đều. Sinh ra ở Duy Hoà, Duy Xuyên, lên Buôn Ma Thuột cùng với cả nhà, cô gái Quảng Nam dễ thương, chịu khó, đi đâu cũng không quên được nét đẹp ấy của quê hương. Đêm ấy, lũ thú rừng cũng quen với tiếng lốc cốc của con người lên khai phá rừng hoang, nên tiếng tác tác cứ đều đều, tiếng nỉ non của côn trùng vẫn rót vào tai thánh thót. Phố hát cho Hoàng nghe trong đêm ấy bài ca quen thuộc của Quảng Nam: “Đất kiên cường sinh gái đảm đang, mến yêu quê hương nên nhọc nhằn dũng cảm…” Phố hát say mê đến hết bài, giọng nữ cao lảnh lót trong rừng già Ea Knũl Dăklăk. Hoàng quay sang Phố hỏi lảng:
– Làm sao em tìm được bài hát ở quê nhà lên đây vậy?
Phố cúi mặt nhìn xuống suối, nghiêng đầu gần Hoàng hơn:
– Đi xa, nhớ quê thì phải tìm mà hát chứ anh, dù sao nơi ấy em có tuổi thơ và lớn lên trên quê hương nữa. Rồi cả nhà lên Buôn Ma Thuột, em cũng phải theo. Anh bảo, làm sao mà không nhớ bạn bè, làng xóm cho được. Bài hát này em chép ở quê mình trong một dịp về lại xứ Quảng đó anh. Ở quê người ta còn dặn: Thương cha nhớ mẹ thì về. Nhược bằng thương kiển (囝[1]) nhớ quê thì đừng.
Ngước mắt nhìn Hoàng, đột nhiên Phố hỏi:
– Em hát có còn giọng Quảng không anh, hay mất cả rồi?
– Vẫn còn đâu đấy! Em đang “tự sự” cho mình đó phải không?
– Em có biết đâu anh, con người thường vẫn trớ trêu như rứa. Phố tiếp lời:
– Quê em ở Duy Hoà, nơi trồng nhiều dâu lắm, đến kỳ dâu tằm nở rộ thì phải biết là trông đẹp mắt. Bây giờ đi xa thấy nhớ, tiếc lắm anh! Vậy ra, em vẫn còn nhớ kiển nhớ quê? Ơi anh! Kiển đâu mà nhớ!
Từ trong đêm vắng, tiếng tác…tác…của thú rừng đâu đó đơn độc dội về. Đêm bập bùng từng đốm lửa trong lều. Suối vẫn róc rách lời của non ngàn.
Trong đêm yên ắng của Êa Knũl lộng gió chỉ còn nghe tiếng tác… tác… lẻ loi của hoẵng, tiếng khạp… khạp… của nai từ xa vọng lại theo gió đưa về. Đêm bàng hoàng lắng đọng từng giọt sương rơi. Trên cầu treo bắc tạm, hai người bạn trẻ nắm tay nhau, ở đấy tình yêu tỉnh dậy, thăng hoa. Hoàng hỏi khẽ:
– Khuya rồi, sương rơi mềm cả tóc, em chưa nghỉ sao?
Phố tựa đầu vào vai Hoàng:
– Đêm vắng quá. Gió núi về, em thấy lạnh anh Hoàng.
Họ rùng mình để nguyên cảm giác tê mê và râm ran chiếm lĩnh cơ thể, không cần phải kiềm chế hay xấu hổ trước những rung cảm ngọt ngào của tình yêu bùng cháy. Họ lịm đi. Phố lại siết chặt hơn và vòng tay qua cổ Hoàng, sát hơn nữa vào ngực mình… Phố bồi hồi:
– Anh chưa nghỉ sao?
– Anh chờ em!
Phố nghiêng đầu mỉm cười, những ngón tay mềm mại xới tung mái tóc rối bù khét nắng rừng già mấy ngày nay của Hoàng. Bất chợt, Hoàng siết lấy bờ vai Phố và rúc mặt vào cái cổ thon thon thơm lựng của Phố. Cô gái mềm ra tụt xuống. Họ lại cuốn chặt lấy nhau giữa núi rừng Êa knũl yên ắng.
Hạt cà te[2] nào lìa cành rụng xuống, một âm thanh đánh tách vừa đủ cựa mình, suối lại vang lên lủm bủm trong đêm vắng. Phố vội đẩy Hoàng ra, ngơ ngác:
– Anh, mình về đi!
Trong đêm sâu lắng của rừng núi Buôn Niên, cứ vọng lại thâu đêm tiếng con nai ngơ ngác, tiếng tác… tác… lẻ loi của con mang đâu đó lạc bầy.
Trời lành lạnh, sương chưa muốn tan vây kín khắp cả khu rừng, không phân biệt khói thổi cơm sáng với sương là đâu. Mặt đất, có thể nhìn thấy từng hạt sương bay là là nhỏ li ti. Trên mặt mọi người đẹp nhất là hàng mi, mi được sương đọng như bông, nhìn vào mắt ai cũng thấy to lên, trắng. Một tiếng tù và rúc lên kéo một hồi dài. Trời sáng. Sau hồi rúc của tù và là tiếng mõ bằng nứa lốc cốc khõ lên. Buổi sáng mới tinh ở rừng thanh nhẹ đến lạ, mùi đất, mùi sương, mùi cây cỏ rừng già ùa vào hai buồng phổi căng phồng. Phía sau lán Êa Tiêu, anh An loay hoay bỏ nắm chè xanh vào nồi, thổi lửa phì phù, anh gọi:
– Lán mình lên tập thể dục buổi sáng chứ, Hoa Đông, Tân Thành họ đi hết trơn rồi kìa.
Thanh giục:
– Nhanh lên, nhanh lên các bạn ơi! Tập thể dục buổi sáng cho khoẻ người ra, cho có khí thế.
Trên những thân cây dầu cao nghệu, từng chùm phong lan nở đu đưa những cái hoa nhập nhoà trong sương sớm. Hoàng miên man nhớ lại một lần ở “Suối giáo viên”, anh An đã nói rành rọt về các giống lan rừng cho Hoàng nghe rồi. Tiếng mõ đi theo lốc cốc, anh An nhìn một lượt thấy đủ mặt, Thanh quay người lẩm nhẩm đếm lại quân số của đơn vị, chưa ai xin phép nghỉ ốm, thế là mừng rồi. Cô Thọ hôm nay ra rừng; Phố, Mai Mẫu giáo, Sơn Ca ở lại lán nấu cơm lo việc “nhà cửa”. Vào đến rừng mà sương vẫn chưa tan hẳn. Ngày thứ tư, đã có dấu hiệu mệt mỏi trên những khuôn mặt đã rám nắng không quen lao động trên rừng. Áo quần lao động chưa giặt được, trông ai cũng có bụi đỏ bám đầy. Từng tụm một, hai, con gái ngồi dưới gốc cây kơ nia bóc vỏ chanh chia phần, đám đàn ông chia nhau điếu thuốc, mấy anh Ê đê lại thích thuốc Lào, chuyền tay nhau cái ống đóm cứ rét…rét …nhả khói, những chùm khói xám mờ như sương. Gió lại quạt mùi rừng vào người hơi mùi hoang dã.
Êa Tiêu lúc nào cũng làm chung cánh với Hoa Đông, Hoà Thành, Êa Ka. Người làm giỏi nhất vẫn không xuể với Đinh Hy và Quách Hùng. Hai anh này người Mường ở Hoà Bình nên thế nào cũng quen với công việc lao động trên rừng như thế này rồi.
Y Đi ở Hoa Đông nói đùa:
– Cả khối giáo dục ai cũng như chú Quách Hùng thì mình rút ngắn được thời gian.
Quách Hùng cười thoả mái:
– Cũng phải kể đến chú Y Đi Hoa Đông nữa chứ, không có Hoa Đông, Êa Tiêu này cũng như rùa chạy chơi với thỏ đấy thôi!
Mồ hôi ra ướt áo, không ai để ý đến chuyện trò, cổ khô, nắng chát sau lưng nóng hừng. Thanh vốn ốm và cao gặp Trần Vân đứng chung thì có dịp cười vỡ bụng, quên cả mệt và đói. Hai ông bạn cứ nói “móc họng” lẫn nhau suốt buổi. Đang ở rừng mà Vân mơ chuyện Quảng Ngãi, trông hối hả để được về ngủ bù một tuần cho bõ ghét. Vân cười, giọng cười của Vân nhất định phải dựng tiếng cười hàng xóm lên phụ theo rồi:
– Về ngoải tao ăn đường non, bù lỗ với lại ngủ ít cũng một tuần mới tắm. Còn ở đây, ô, không tắm mô, đau sốt rét đó.
Thanh thì cứ cho Vân xuống suối tắm sợ con cơ-sóc nó chụp mà nói vậy chứ có hề gì:
– Vân chưa về ngoải đâu mà có về thì cũng đạp xe xuống Hoà Bình hành lễ cho hết ba gian nhà dài theo nhịp trống điểm chiêng ngân của nhà ông Hy xong mới có thể, mà lễ xong đầu gối mòn nhẵn thín, làm sao đứng lên được mà về ngoải hả Vân?
Trần Vân chống cái búa xuống đất, hất chân lên gác gốc cây, quệt mồ hôi:
– Cũng khổ thiệt, ở ngoải có … mà thôi, kệ tui chớ!
Trần Vân lên Êa Tiêu dạy học, ở đây anh gặp đồng nghiệp với mình, thời gian khốn khó có nhau, vui buồn cùng chia sẻ, trong số ấy Trần Vân gặp H’Kim từ Sài Gòn về quê hương Tây nguyên của mình dạy học. Ở Sài Gòn, Kim học năm thứ nhất Văn khoa, Vân năm thứ hai môn toán. Hai người nói chuyện Gài Gòn rành rọt không ai bằng. Họ gần gũi và săn sóc cho nhau, từ những bữa bắp hầm chấm muối đến những cọng rau dền, rau muống chấm nước muối pha với vị tinh đã dần xích họ đến gần hơn, rồi một ngày nào đó họ yêu nhau không ai biết. Vân muốn đến với H’Kim phải nhất trí những nghi lễ xưa nay của gia đình Kim. Mẹ Vân được mời từ Quảng Ngãi lên thăm nhà ông bà sui, thấy nhà H’Kim là nhà sàn, bà ngạc nhiên rồi lặng lẽ quay về.
Vân không thể giữ được mẹ ở lại lâu hơn, mẹ Vân quay về Buôn Ma Thuột, bà chỉ kịp chào Dung – con gái bà – là quay về Quảng Ngãi, không lên Hoa Dung lần nữa. Vân tha thẩn mấy tuần liền, chưa biết tính liệu thế nào.
Bữa ấy, Duyên là giáo viên mẫu giáo của trường tổ chức tiệc cưới, anh em làng Trung được mời tham dự đông đủ. Chẳng hiểu sao Vân uống nhiều rượu đến như thế, cả H’Kim can ngăn, Vân cũng cứ uống, Vân thì thào:
– Cứ để mình uống cho say mà quên hết chuyện đời. Ngày xưa ông Lý Bạch bên Tàu cũng say đó, thì đã sao, ông vẫn được người thời ông gọi là Thi tiên. Còn ở bên ta có ông nhà thơ khi say thì ngâm nga: Đất say, đất cũng lăn quay. Trời say, trời cũng đỏ gay ai cười. Sau buổi tiệc ấy, Vân quyết định tự chọn với Kim. Vân mua một sào cà phê, làm một căn nhà nho nhỏ, anh em làng Trung chụm lại giúp hơn một tuần là xong. Đến lượt Kim được điều chuyển sang trường Êa Ka công tác. Vân buồn!
Trưa, bóng cây kơ nia ôm lấy chân, một vùng bóng mát toả rộng, gió rừng Buôn Niên mát rượi, tiếng tù và của ai vọng lại tu… tu… Buổi trưa ở lán, Phố, Lê, Sơn Ca chuẩn bị cơm, không bàn ghế gì khi đang ở rừng. Giờ cơm, mọi người đều ăn đứng. Cơm được dọn lên trên một cái sạp, thức ăn không thiếu rau rừng, đặc biệt là ớt, ớt xiêm ở núi cay rát miệng. Anh Y Đi, cô H’ Lững người Ê đê bảo rằng ăn nhiều ớt sẽ tránh được sốt rét rừng, thế nên ngày nào trong bữa cơm cũng có nhiều ớt. Cơm độn thêm bảy mươi phần trăm là ngô xay. Đang trưa, nằm trên chiếc cầu treo, dưới nước suối chảy róc rách như cảnh tiên. Châu Văn nhìn trời nheo mắt:
– Chiều nay chắc mưa sớm Thanh hì?
– Tây nguyên mà, lại rừng nữa, Châu Văn không nhớ có người hát “Mưa rừng ơi mưa rừng à”, làm sao mà mùa này không mưa. Xem lại cái lán, nếu không thì tối không nơi ngủ.
Có tiếng cô Thọ nhắc Vĩnh trong lán:
– Vĩnh mang áo mưa cho mấy anh cầm theo. Riêng Vĩnh cái này này! Nói xong Thọ ném cho Vĩnh chiếc áo mưa, không phải tấm nhựa choàng.
Liên bên lán Hoa Đông hôm ấy là phiên trực, anh đội mũ tai bèo trùm kín gáy:
– Tập họp bà con ơi! Tập họp!
Cả đoàn kéo lên Ban chỉ huy nông trường sắp một hàng dài. Có ai đi sau Hoàng bực mình:
– Mấy hôm thì không, sao nay lại phải sắp hàng điểm danh gắt thế?
Từ loa phóng thanh phát ra át cả tiếng ồn: Chiều nay trời có thể mưa to, Ban chỉ huy cho nghỉ giải lao một buổi để lo việc lán trại, giặt giũ.
Cả mấy trăm con người khối giáo dục vỗ tay hồi lâu.
Thanh họp đoàn ngay cầu, giữa con suối, điểm lại tình hình lao động xem có ai đau ốm gì không, những nhu cầu cần cho những ngày tới là gì. Mưa có thể về sớm trong rừng, chuẩn bị với muỗi mòng và vắt. Nhìn mặt từng người, ai cũng phấn khởi tươi tỉnh cả. Mừng rồi!
Anh An đứng giữa cầu bảo rằng chiều nay chơi mà làm, làm mà chơi rồi anh phân công: Mai Mẫu giáo, cô Nga lớp 3 nấu chè đậu đen và nước chè xanh, nhớ bỏ vào nồi vài lát gừng cho thơm hẹ. Thanh, Châu Văn, Đinh Hy đào một cái giếng con con bên suối mà lấy nước. Vĩnh, Quách Hùng, Trần Vân vào rừng lấy củi. Hoàng và anh An sửa lại trại lán và sau đấy lên rừng lấy củi về. Cô Thọ, Sơn Ca theo xe nông trường về chợ Buôn Ma Thuột mua sắm thêm thức ăn.
– Anh sửa xong lán, mình lên rừng chặt củi nghe, Phố!
Phố tần ngần. Hoàng nói bạo:
– Trốn đi một lát rồi về, có ai hay. Chiều nay khối người lên rừng hái phong lan, đào củ nhân sâm!
Rừng về chiều đẹp hơn buổi sáng, có chàng hoạ sỹ nào lạc vào rừng buổi chiều như buổi chiều nay thì tha hồ phối cảnh. Từng đốm lửa mặt trời in trên đất như những chiếc hoa. Đất như trải thảm mượt mà. Vẽ được cảnh rừng chiều không phải dễ! Cứ bảo ở rừng có ông rừng là sợ nhưng vác cà – gạc trên vai đi là yên tâm được, không sao. Càng vào sâu, rừng vẫn có những khoảng trống thoai thoải, những vạt cỏ bằng phẳng. Đá rải rác. Không nghe tiếng chim rừng gọi bạn, chỉ có gió kể lể gì đấy trên những khóm trúc xanh non. Lá cây dầu vươn cao cọ gió, phát ra tiếng kêu như những nốt nhạc trầm buồn. Hoàng và Phố bước bên nhau. Cô giáo chiều nay mặc chiếc áo bà ba màu nâu tay ngắn, áo không gói được hết sức gợi cảm của thân mình. Dừng lại, Phố hỏi:
– Vài bữa nữa anh có về Quảng không?
– Có! Mà sao?
Họ dừng lại ngồi trên một gốc cây. Gió phảng phất mùi thơm từ Phố sang Hoàng rồi toả vào rừng núi Êa Knũl. Đôi mắt Phố như có nước, dịu dàng. Họ lại nắm tay nhau. Rừng núi như mờ đi tất cả, còn lại ở họ buổi chiều nay là niềm ao ước say mê hạnh phúc đời người.
– Anh, mình về đi!
Nha Trang biển buổi sáng thật đẹp, mặt biển gợn sóng đuổi nhau, nhè nhẹ gặm bờ, rồi lùi ra xa, rồi lại thế. Nắng đã chiếu xuống biển ban mai, gió lùa vào hàng dương ven bờ rì rào dễ chịu, những cây dừa đưa những chiếc lá như những cái đuôi gà lên trời. Hoàng bước chầm chậm trên bờ cát, mắt nhìn xa, mặt biển mênh mông bát ngát. Sóng từng lớp cuồn cuộn đuổi nhau không biết chán. Trên bãi cát dài mấy ngàn thước, người tắm biển tụm nhau tung quả bóng trên mặt nước rồi đuổi bắt, bóng cứ chập chờn theo sóng. Lại đuổi bắt!
… Sáng hôm nay ghé lại Nha Trang, Hoàng bước đi trên bãi biển mà thầm nghĩ: Lúc này Phố chuẩn bị thu ngô, làm cỏ lúa, không hiểu cô gái Quảng Nam xa quê trên nông trường Êa Knũl đầu hạ có còn dịp nào Hoàng gặp lại nữa không khi mùa khai giảng đến. Hôm chia tay trên rừng già Buôn Niên, Phố trở về căn nhà nhỏ nghèo bên cạnh cổng trường Hoa Đông mà nhớ. Các em Phố vẫn thường thăm rẫy ngô, nương lúa mỗi ngày. Có gì đấy trống vắng len trong người Phố. Chia tay Hoàng tại đầu đường Y Jút thị xã Buôn Ma Thuột, Hoàng hỏi:
– Sáng mai anh về Quảng, em có gởi gì không?
Cúi mặt, ấn mấy đầu ngón chân xuống đường phố Ban Mê, Phố nói nhỏ:
– Có chứ anh, em gởi theo hết cả. Hết cả rồi! Anh nhớ…
*
Eo ơi, thế này hèn chi anh lưu luyến Ban Mê là phải rồi. Em hờn đó! Linh Hoa chợt hỏi: Mà anh, chuyện kể của anh trên ấy càng lúc càng nghe được. Không có chuyện nào như chuyện anh và em đêm nay sao? Không đâu em, chuyện của em là chuyện phố, chuyện của anh là chuyện rừng. Sao lại giống nhau được.
Mưa Vũng Tàu vẫn chưa dứt, ánh đèn điện hắt bóng hai người trên đường phố, họ nhận ra những giọt mưa xiên ngang, tạt vào người. Họ cảm thấy lạnh và đôi chân đã mỏi. Những bước đi chầm chậm xa dần. Mưa vẫn rơi, những chiếc bong bóng đổ xuống đường vỡ tan trong cơn mưa mùa hạ./.
[1] 囝: kiển = đứa con. Dị bản: …Nhược bằng thương kiểng nhớ quê thì đừng.
[2] Hạt cà te: Hạt cà-te là hạt cây gõ đỏ. Gõ đỏ là loại cây lớn, quý hiếm.

